Se ha denunciado esta presentación.
Utilizamos tu perfil de LinkedIn y tus datos de actividad para personalizar los anuncios y mostrarte publicidad más relevante. Puedes cambiar tus preferencias de publicidad en cualquier momento.
NGUYÊN TẮC CHẨN TRỊ HỆ
THẦN KINH TÂM THẦN
N G À Y 2 1 T H Á N G 8 N Ă M 2 0 1 0
chúng ta nên đề phòng bệnh áp huyết thấp b...
não, cần phải phục hồi máu nuôi não gấp . Cô nghe tôi nói cô không có bệnh cô mừng lắm,
cô nói với chồng, em đâu có bênh m...
http://khicongydaotailieu.blogspot.cz/2011/03/tap-tho-khi-cong-tu-chua-benh-mat-
ngu.html#more
Labels: 15 - Bệnh thuộc thầ...
A-Nguyên nhân :
Cô đừng lo lắng, bệnh này đông tây y không chữa được vì chưa tìm ra được cách chữa
đúng, nhưng Khí Công Y ...
Về Tinh : Do ăn uống không đầy đủ chất bổ tạo máu, hay ăn chất chua làm mất máu,
mất hồng cầu, không đủ máu đi nuôi khắp c...
Sở dĩ tôi giải thích dài dòng, để mọi người tự biết theo dõi khí huyết trong cơ thể bằng
máy đo áp huyết là chính, mặc dù ...
b-Đưa máu lên nuôi não bằng bài Cúi Ngửa 4 Nhịp 20 lần, tăng cường trí nhớ, ngừa
chóng mặt, xây xẩm, nhức đầu, rụng tóc, t...
Mong cho cháu mau khỏi bệnh để tiếp tục đi học bình thường. Nhớ kiểm soát áp huyết
thường xuyên để biết nếu thuốc nào hay ...
Tìm ki?m
V I D E O S
Video Chữa Từng Bệnh
Trang Xem Videos
Diện Chẩn Bấm Huyệt Thầy Lý Phước Lộc
Sách điện tử
Khí Công Trị...
HUYỆT: Cự Khuyết http://678.com.vn/cham-cuu/c/cu-khu...
TÊN HUYỆT
Huyệt ở chỗ lõm (khuyết) rất sâu (cự) của chấn thủy, vì ...
• Huyệt ở trên đường trắng, sau đường trắng là mạc ngang, phúc mạc, sau thành
bụng là thùy gan trái. • Da vùng huyệt chi p...
Du:Dưỡng Tâm, an thần định chí, lý huyết, điều khí.Chủ Trị Huyệt Tâm
Du:Trị bệnh về tim, tâm thần phân liệt, động kinh, th...
Cứu Học Thượng Hải).21. Phối Dương lăng Tuyền (Đ.34) thấu Âm Lăng Tuyền
(Tỳ 9) + Nội Quan (Tâm bào.6) + Thần Môn (Tm.7) tr...
cốc tụ lại thành đờm. Khí uất lại có thể hóa hỏa, đờm hỏa quấy rối Tâm thần
cũng dẫn đến Tâm quý không yên.2. Tâm Huyết Bấ...
Huyết Bất Túc: Tim hồi hộp, choáng váng, sắc mặt kém tươi, móng chân tay
nhạt, tay chân khôngcó sức, chất lưỡi đỏ nhạt, mạ...
sâm, Đương quy để hoạt huyết hóa ứ là chủ yếu; Huyền hồ, Xuyên khung,
Hương phụ làm thuốc hỗ trợ).Có thể thêm Quế chi, Cam...
môn bổ chân dương của Thận để ôn các tạng).Tâm Tỳ Hư Nhược: Bổ ích Tâm
tỳ. Châm Tâm du, Tỳ du, Thần môn. Thêm Túc tam lý, ...
môn, Nội quan để an thần, làm cho hết hồi hộp) (Bị Cấp Châm Cứu).+ Tâm
Huyết Ứ Trở: Hoạt huyết, khứ ứ, làm cho hết hồi hộp...
Quyết âm du. Tâm Phế khí hư thêm Phế du, Liệt khuyết. Khí hư huyết ứ thêm
Quan nguyên. Kích thích vừa, lưu kim 20-30 phút,...
nhịp tim đều, 80 lần/phút. Hai bên Phổi sáng, Gan dưới hạ sườn 1 khoát, mềm,
không đau, chất lưỡi đỏ, mạch Tế Sác.Chẩn đoá...
Cuồng là loại bệnh do ngũ chí quá mức hoặc do tiên thiên di truyền,
làm cho đờm hỏa ủng thịnh, bế tắc tâm khiếu, thần cơ b...
kinh sợ làm cho thai khí bị ảnh hưởng, mất chức năng thăng giáng, âm dương
mất quân bình khiến cho tiên thiên không đủ, nã...
ứ. Dùng bài Điên Cuồng Mộng Tỉnh Thang.(Trong bài dùng Đào nhân để lấy vị
đắng để hoạt huyết, vị ngọt, hoãn để ích Can sin...
30g (chia ra cho vào thuốc sắc uống). Sắc uống.TD: Bình Can, giải uất, tả nhiệt
hóa đờm, lý khí, tán kết. Trị tinh thần ph...
1987, 8): Hoàng kỳ (nướng), Đảng sâm, Táo nhân (sao), Đan sâm 15g, Hắc phụ
phiến 9~12g, Bạch truật (sao), Cửu tiết xương b...
toàn: 275 (55%), Kết quả ít 84 (16,8%), Chuyển biến tốt 83 (16,6%), Không kết
quả 58 (11,6%). Đạt tỉ lệ chung 88,4% (Châm ...
uống thuốc vào buổi sáng sớm. Chỉ sau một phút uống thuốc bắt đầu nôn thải ra
khoảng 300ml đờm nhầy trắng, sau đó còn nôn ...
Huyệt:1. Phối Cách Du (Bàng quang.17) + Can Du (Bàng quang.18) + Đại Trữ
(Bàng quang.11) + Đào Đạo (Đc.13) + Ngọc Chẩm (Bà...
Phối Cự Khuyết (Nh.14) trị thần kinh suy nhược (Châm Cứu Học Thượng
Hải).23. Phối Bá Hội (Đc.20) + Khí Xung (Vị 30) + Thượ...
cũng không xong. Nguyên nhân là do cơ địa nên mặc dù áp huyết cao nhưng không gây đau đầu,
hay do lý do nào khác thưa thầy...
Trường hợp 18 : 90/60mmHg mạch 55, giống trường hợp 7, nhưng người nóng không do sốt
nhiễm trùng, hẹp van tim, vừa thiếu k...
Phải 180/80mmHg mạch 95, Trái 160/80mmHg mạch 85, tâm nhiệt, vì mẹ của tâm và con của
tâm nhiệt, do ăn uống những thức ăn ...
L- Đo áp huyết dưới cổ chân trong nơi huyệt Tam Âm Giao :
Theo tiêu chuẩn khí công, số đầu của áp huyết tâm thu ở dưới châ...
1-Áp huyết và đường :
Qua kinh nghiệm trong thời gian nhịn ăn bằng phương pháp uống nước chanh-đường để
thanh lọc độc tron...
Nguyên tắc chẩn trị hệ thần kinh tâm thần
Nguyên tắc chẩn trị hệ thần kinh tâm thần
Nguyên tắc chẩn trị hệ thần kinh tâm thần
Nguyên tắc chẩn trị hệ thần kinh tâm thần
Nguyên tắc chẩn trị hệ thần kinh tâm thần
Nguyên tắc chẩn trị hệ thần kinh tâm thần
Nguyên tắc chẩn trị hệ thần kinh tâm thần
Nguyên tắc chẩn trị hệ thần kinh tâm thần
Nguyên tắc chẩn trị hệ thần kinh tâm thần
Nguyên tắc chẩn trị hệ thần kinh tâm thần
Nguyên tắc chẩn trị hệ thần kinh tâm thần
Nguyên tắc chẩn trị hệ thần kinh tâm thần
Nguyên tắc chẩn trị hệ thần kinh tâm thần
Nguyên tắc chẩn trị hệ thần kinh tâm thần
Nguyên tắc chẩn trị hệ thần kinh tâm thần
Nguyên tắc chẩn trị hệ thần kinh tâm thần
Nguyên tắc chẩn trị hệ thần kinh tâm thần
Nguyên tắc chẩn trị hệ thần kinh tâm thần
Nguyên tắc chẩn trị hệ thần kinh tâm thần
Nguyên tắc chẩn trị hệ thần kinh tâm thần
Nguyên tắc chẩn trị hệ thần kinh tâm thần
Nguyên tắc chẩn trị hệ thần kinh tâm thần
Nguyên tắc chẩn trị hệ thần kinh tâm thần
Nguyên tắc chẩn trị hệ thần kinh tâm thần
Nguyên tắc chẩn trị hệ thần kinh tâm thần
Nguyên tắc chẩn trị hệ thần kinh tâm thần
Nguyên tắc chẩn trị hệ thần kinh tâm thần
Nguyên tắc chẩn trị hệ thần kinh tâm thần
Nguyên tắc chẩn trị hệ thần kinh tâm thần
Nguyên tắc chẩn trị hệ thần kinh tâm thần
Nguyên tắc chẩn trị hệ thần kinh tâm thần
Nguyên tắc chẩn trị hệ thần kinh tâm thần
Nguyên tắc chẩn trị hệ thần kinh tâm thần
Nguyên tắc chẩn trị hệ thần kinh tâm thần
Nguyên tắc chẩn trị hệ thần kinh tâm thần
Nguyên tắc chẩn trị hệ thần kinh tâm thần
Nguyên tắc chẩn trị hệ thần kinh tâm thần
Nguyên tắc chẩn trị hệ thần kinh tâm thần
Nguyên tắc chẩn trị hệ thần kinh tâm thần
Nguyên tắc chẩn trị hệ thần kinh tâm thần
Nguyên tắc chẩn trị hệ thần kinh tâm thần
Nguyên tắc chẩn trị hệ thần kinh tâm thần
Nguyên tắc chẩn trị hệ thần kinh tâm thần
Nguyên tắc chẩn trị hệ thần kinh tâm thần
Nguyên tắc chẩn trị hệ thần kinh tâm thần
Nguyên tắc chẩn trị hệ thần kinh tâm thần
Nguyên tắc chẩn trị hệ thần kinh tâm thần
Nguyên tắc chẩn trị hệ thần kinh tâm thần
Nguyên tắc chẩn trị hệ thần kinh tâm thần
Nguyên tắc chẩn trị hệ thần kinh tâm thần
Nguyên tắc chẩn trị hệ thần kinh tâm thần
Nguyên tắc chẩn trị hệ thần kinh tâm thần
Nguyên tắc chẩn trị hệ thần kinh tâm thần
Próxima SlideShare
Cargando en…5
×

Nguyên tắc chẩn trị hệ thần kinh tâm thần

729 visualizaciones

Publicado el

Nguyên tắc chẩn trị

Publicado en: Salud y medicina
  • Sé el primero en comentar

  • Sé el primero en recomendar esto

Nguyên tắc chẩn trị hệ thần kinh tâm thần

  1. 1. NGUYÊN TẮC CHẨN TRỊ HỆ THẦN KINH TÂM THẦN N G À Y 2 1 T H Á N G 8 N Ă M 2 0 1 0 chúng ta nên đề phòng bệnh áp huyết thấp bị chẩn đoán sai lầm thành bệnh tâm thần THỨ BẢY, NGÀY 05 THÁNG 3 NĂM 2011 Chúng ta nên đề phòng bệnh áp huyết thấp bị chẩn đoán sai lầm thành bệnh tâm thần Trời không lạnh nhưng cô mặc áo lạnh trùm khăn, hai mắt có quầng đen, mặt mất sắc, hốt hoảng, mắt ngơ ngác như lạc hồn vía, im lặng không nói năng gì, cử chỉ sợ sệt, chồng cô năn nỉ mãi cô mới chịu ngồi ghé mông lên bàn khám. Khi tôi lấy máy đo áp huyết định đo cho cô, cô hốt hoảng dựt tay lại và nói: Làm cái gì vậy ? Cô nhẩy ra khỏi bàn đứng nép người vào góc phòng. Đúng là thần kinh bệnh nhân không bình thường. Tôi nói thôi, cô ấy không muốn khám để cô ấy về, đừng làm cho cô ấy sợ. Một buổi chiều khi phòng mạch sắp đóng cửa lúc 19 giờ, có một gia đình 2 vợ chồng và 2 đứa con còn nhỏ từ Toronto lên Montreal trễ không có hẹn trước, người chồng năn nỉ xin giúp đỡ cứu giùm cô vợ bị bệnh nặng. Tôi mời vào phòng và hỏi cô ấy bị bệnh gì ? Anh ta nói vợ con bị bệnh tâm thần, đêm sợ hãi không dám ngủ, hay dựt mình nằm ác mộng, tay anh cầm một túi đựng thuốc tây bệnh viện cho uống mỗi ngày đưa lên cho tôi xem. Tôi bảo cô ta nằm trên bàn khám để tôi đo áp huyết. Trời không lạnh nhưng cô mặc áo lạnh trùm khăn, hai mắt có quầng đen, mặt mất sắc, hốt hoảng, mắt ngơ ngác như lạc hồn vía, im lặng không nói năng gì, cử chỉ sợ sệt, chồng cô năn nỉ mãi cô mới chịu ngồi ghé mông lên bàn khám. Khi tôi lấy máy đo áp huyết định đo cho cô, cô hốt hoảng dựt tay lại và nói: Làm cái gì vậy ? Cô nhẩy ra khỏi bàn đứng nép người vào góc phòng. Đúng là thần kinh bệnh nhân không bình thường. Tôi nói thôi, cô ấy không muốn khám để cô ấy về, đừng làm cho cô ấy sợ. Chồng cô qùy xuống lạy cô, năn nỉ cô và nói: Anh lạy em, năn nỉ em để Thầy chữa bệnh cho em khỏi bệnh, em còn 2 đứa con phải nuôi . Tôi nghiệp anh và 2 đứa con, Thầy Ngọc chữa được bệnh cho em mà, em đừng có lo không chữa khỏi bệnh ….Tự nhiên cô ta nói : Anh đứng dậy đi, lúc nào anh cũng qùy lạy , em đâu có bệnh gì mà chữa. Chồng cô nói: Nếu em không để Thầy Ngọc chữa anh qùy ở đây mãi không đứng lên đâu, Thầy chỉ đo áp huyết cho em thôi mà… Cuối cùng cô ấy chịu, tôi đo áp huyết 2 tay, tay trái 99/68mmHg mạch đập 65, tay phải 101/67mmHg mạch 65, vừa đo 2 tay xong cô nhảy xuống bàn, cô nói cô không có bệnh, người chồng lại năn nỉ cô để tôi chẩn mạch tiếp, tôi nói khỏi cần, cô ấy không có bệnh gì hết, cơ thể suy nhược mất sức, thiếu khí huyết tuần hoàn và quan trọng nhất là thiếu máu
  2. 2. não, cần phải phục hồi máu nuôi não gấp . Cô nghe tôi nói cô không có bệnh cô mừng lắm, cô nói với chồng, em đâu có bênh mà bắt đi khám .Anh ta lo nếu tôi không chữa thì đêm nay làm sao cô ngủ để khỏi bị ác mộng hốt hoảng ngồi thức suốt đêm trên giường đây… Tôi nói nhỏ với anh ta là cô ấy đang sợ hãi, vì chính tây y cũng không tìm ra bệnh, cho uống thuốc trấn an thần kinh. Điều cấm kỵ nhất là anh và cả nhà không được nói chữ điên hay bệnh tâm thần, nếu để cô ấy nghe được những tiếng này cô ấy sẽ điên thật sự, ngay cả anh không có bệnh điên mà tôi nói anh điên thì anh cũng phát khùng lên thật đấy . Bệnh của cô do lo lắng không ăn uống được mất sức, áp huyết thấp, thiếu máu não vì không chữa đúng vào bệnh mà cho uống thuốc trấn an thần kinh thì không phải là chữa gốc . Bây giờ thuốc tây ở Canada mới có một loại thuốc đặc biệt (Hormodausse) không đâu có và cũng chưa có loại nào thay thế hay bằng nó để có thể giúp cho cô ấy ăn ngủ ngon, hết chóng mặt mệt mỏi do thiếu máu não. Loại thuốc bổ ống uống này mua tự do không cần toa , anh lên tiệm thuốc trên lầu mua ngay, tối đi ngủ cho cô uống một ống, đêm ngủ ngon, sáng dậy tỉnh táo đòi ăn uống, cứ uống hết một hôp 18 ống xong thì lại đây sau cũng không muộn. Khi cô nghe tôi nói cô không có bệnh, cô có thiện cảm với tôi, không còn sợ hãi như người xa lạ , tôi hỏi :Con có ăn được không ? Cô nói : Ăn không được .Tôi hỏi tiếp : Con có ngủ được không ? Cô nói : Con sợ qúa à ,con ngủ không được .Tôi hỏi tại sao ? Cô nói : Con nằm mơ thấy 2 đứa con của con, con sợ mất 2 đứa con của con … Khi chồng cô mua được thuốc ,hỏi tôi vậy những loại thuốc tâm thần này con cho tạm ngưng tối nay đi, để cô ấy uống một ống thuốc bổ này xem sao ngày mai con cho Thầy biết kết qủa, cô nghe nói ngưng thuốc tâm thần cô mừng lắm lúc đó trên mặt cô mới có nửa nụ cười. Cả nhà ra về, chồng cô nhắc: Em chào Thầy đi em. Cô nói: Chào Thầy. Ba ngày sau chồng cô dẫn cô đến phòng mạch xin chữa tiếp và nói : Hôm nay vợ con chịu đến nhờ Thầy chữa rồi , khi cô ấy vào phòng, tôi hỏi : Sao, con có ngủ được không ? Cô nói : Dạ ngủ được . Tự nhiên chồng cô nói : Chưa, mới chỉ ngủ được 2-3 tiếng rồi thức . Tôi quay sang chồng cô và la cho chồng cô một trận , bệnh của vợ anh cần phải được khuyến khích cho lên tinh thần, cô ấy cảm thấy là ngủ được hơn mọi ngày, tinh thần của cô đã vui hơn và dạn dĩ hơn , người làm cho cô ấy xuống tinh thần chính là anh, anh mới là người có bệnh tâm thần hay bi quan hốt hoảng chứ không phải vợ anh! Cô ấy nghe tôi nói như thế cô cười ,sau đó tôi đo áp huyết lên được 105 và 110/70mmHg, tôi nói đã khá rồi . Tôi bảo bây giờ tôi lấy máy đo xem máu đã lên đầu đủ chưa nhé . Cô nói : Dạ ! Tôi dùng máy đo Nonin (loại The 8500 Digital Handheld Pulse Oximeter provides a simple universal tool for patient monitoring – from spot-checks to continuous monitoring). để đo SpO2 và đo mạch trên đầu nơi huyệt Thần đình trước chân tóc trán, SpO2 chỉ 70, mạch chỉ 65 . Tôi cho nằm tập thở bụng làm tăng áp huyết, khoảng 10 phút sau, mặt hồng hào, hốc mắt hết quầng thâm , đo lại áp huyết lên 120/70mmHg mạch 70, ánh mắt trông hết ngây dại , tôi dạy cô thở bằng bài hát one, two, three…sau đó tập động công bài Vỗ tay 4 nhịp . Khi ra về chồng cô nói đêm cô ngủ hay bị giựt mình hốt hoảng đề nghị cho toa thuốc thang về sắc uống cho mau khỏi bệnh .Tôi nói không cần, nếu muốn, hãy ra tiệm thuốc bắc mua một lọ tiên đơn đựng trong 2 cái hồ lô nhỏ như ngón tay út, mỗi lọ 50 viên nhỏ hơn nửa hạt gạo, mỗi lần bỏ vào miệng ngậm 5 viên là tỉnh táo ngay, không kiêng kỵ thuốc đông tây y gì cả, tên thuốc là Cứu Tâm Đơn . Chữa được một tuần cô đã khỏi bệnh, chủ nhật 2 vợ chồng đi tập thể dục khí công tại lớp, và chồng cô đã xin được việc làm cho cô để ngày mai cô bắt đầu đi làm trở lại, sau 3 tháng suýt chữa lầm thành bệnh tâm thần phải mang bệnh và uống thuốc trị tâm thần đến suốt đời . doducngoc
  3. 3. http://khicongydaotailieu.blogspot.cz/2011/03/tap-tho-khi-cong-tu-chua-benh-mat- ngu.html#more Labels: 15 - Bệnh thuộc thần kinh 238 - Hỏi cách chữa bệnh liệt chân do teo tủy sống ở cổ ngực Thưa thầy! Con rất vui khi được một người bạn cho biết về thầy. Con có đọc và xem những bài chữa bệnh của thầy, con muốn tìm cách chữa bệnh cho đứa con gái của con mà hình như con tim không thấy. Con viết thư này mong thấy có thể dành chút thời giờ giúp con cứu cháu. Con gái của con bé Kiểu năm nay 15 tuổi, cách đây 5 tháng cháu đang đi học khỏe mạnh bình thường. rồi đột nhiên cháu bước đi không vững. cháu được đưa đến bệnh viện, tại bệnh viện các bác sĩ chụp phim não cột sống và kết luận là cháu bị "teo tủy cổ-ngực, liệt 2 chỉ dưới. bác sĩ nói bệnh của cháu do bẩm sinh không có cách điều trị nào chỉ điều trị cách duy nhất là "trợ sức". Cháu được đưa qua trung tâm chấn thương chỉnh hình, tại đây cháu được xoa bóp và vuốt huyệt, đã 5 tháng rồi cháu bước đi lại tốt hơn một chút thôi, cháu bước đi rất khó khăn, rất đáng thương thưa thầy. Con xin thấy có thể giúp cháu cách tập như thế nào hiệu quả nhất. và con phải làm gì cho cháu bây giờ thưa thầy. con mong nhận được sự khuyên bảo của thầy, gia đình con vô cùng biết ơn ! ! Kính chúc thấy nhiều sức khỏe! ! !
  4. 4. A-Nguyên nhân : Cô đừng lo lắng, bệnh này đông tây y không chữa được vì chưa tìm ra được cách chữa đúng, nhưng Khí Công Y Đạo thì dễ dàng, vì lý thuyết rất đơn giản, tất cả các bệnh do nguyên nhân tuần hoàn của khí và huyết. Nếu khí huyết đủ và đúng thì không bệnh tật, nếu dư thừa hay thiếu thì cơ thể phát sinh ra mọi bệnh tật. Hãy đo áp huyết ở 2 tay và 2 cổ chân trong của cháu sau khi ăn 30 phút, rồi so sánh áp huyết với bảng tiêu chuẩn của khí công : 95-100/60-65mmHg, mạch tim đập 60 là áp huyết ở tuổi thiếu nhi.(6 tuổi-12 tuổi) 100-110/60-65mmHg, mạch tim đập 65 là áp huyết ở tuổi thiếu niên (13 tuổi-17 tuổi) 110-120/65-70mmHg, mạch tim đập 65-70 là áp huyết ở tuổi thanh niên (18 tuổi-40 tuổi) 120-130/70-80mmHg, mạch tim đập 70-75 là áp huyết ở tuổi trung niên (41 tuổi-59 tuổi) 130-140/80-90mmHg, mạch tim đập 70-80 là áp huyết ở tuổi lão niên (60 tuổi trở lên) Áp huyết ở chân hơn áp huyết ở tay 10mmHg. Nguyên nhân bệnh theo bác sĩ cho rằng cháu bị teo tủy cổ ngực do bẩm sinh, điều đó không đúng. Nếu do bẩm sinh thì tại sao 15 năm sau mới xảy ra. Thời gian 15 năm, nếu ai ăn uống sai lầm làm áp huyết tụt thấp cũng sẽ gặp phải bệnh này. Hãy để ý quan sát một người đang khỏe mạnh, đứng làm việc, bỗng nhiên khuỵu chân xuống té ngã, nếu đi khám tây y, các bác sĩ sẽ xét nghiệm, chẩn đoán xem dấu hiệu té ngã liên quan đến bệnh gì, theo giả thiết thì có rất nhiều bệnh nan y trong trường hợp này, và trường hợp của cháu là một trong những bệnh tây y đã tìm ra theo lý thuyết. Thực tế thì không phải, nếu đo áp huyết thì kết qủa cho biết áp huyết tụt thấp do nhiều nguyên nhân theo khí công dựa theo 3 yếu tố Tinh-Khí-Thần.
  5. 5. Về Tinh : Do ăn uống không đầy đủ chất bổ tạo máu, hay ăn chất chua làm mất máu, mất hồng cầu, không đủ máu đi nuôi khắp cơ thể, nên gân cơ và các ống máu teo nhỏ, thiếu máu nuôi tủy làm teo tủy, thiếu máu não làm chóng mặt té ngã, thiếu máu làm chân tay yếu, mất sức. Như vậy nguyên nhân do Tinh là thiếu máu, vì áp huyết thấp thì cần bổ thêm máu, ăn nhiều những chất bổ máu, và không được ăn những chất chua hại máu. Nếu cơ thể chán ăn không muốn ăn thì dùng thuốc kích thích tiêu hóa giúp cho thèm ăn và ăn được nhiều…. Về Khí : Cơ thể thiếu tập luyện thể dục thể thao, đánh túc cầu, bơi lội, học võ thuật..hay vận động cơ thể giúp cơ thể tăng khí lực để đủ áp lực khí đẩy máu lưu thông lên đầu và ra đến chân tay, vì áp huyết thấp, cần phải tập luyện cho áp huyết tăng lên đủ tiêu chuẩn. Về Thần : Một người đang khỏe mạnh tự nhiên khuỵu chân té ngã, là thần kinh suy nhược, thiếu máu nuôi não, người lúc nào cũng bần thần mệt mỏi. Còn tuổi học trò, thức khuya học bài mất ngủ, người lớn thức khuya làm việc hay đánh bài thức đêm suốt sáng, khi đi làm, bỗng nhiên trong đầu ngủ trong tích tắc thì bị té ngã, như vậy bệnh đâu phải do chân yếu. Theo cách khám và chữa bệnh của khí công là tìm nguyên nhân Khí và Huyết từ Tinh- Khí-Thần, chữa bệnh là điều chỉnh Tinh-Khí-Thần hòa hợp, kiểm chứng lại bằng máy đo áp huyết lên đủ tiêu chuẩn là hết bệnh tật. Phương pháp của Khí Công Y Đạo không tìm nguyên nhân nào khác ngoài Khí và Huyết theo Tinh-Khí-Thần, vi trùng virus không quan trọng, vì đó là hậu qủa tất yếu của sự mất quân bình âm dương khí huyết. Phương pháp của tây y chữa ngọn, không để ý đến khí và huyết, nên những bệnh tâm thần phải uống thuốc suốt đời mà mỗi ngày bệnh càng nặng, vì tây y không kiểm chứng khí huyết bằng máy đo áp huyết, cho rằng máy đo áp huyết chỉ áp dụng cho bệnh tim mạch, còn nếu có đo áp huyết thấy lúc nào cũng ở trong khoảng 100 đến 140 là tốt, chứ không theo dõi sự thay đổi áp huyết, trước khi chữa một bệnh điên, tinh thần kích động áp huyết lên đến 150, sau một năm chữa, áp huyết xuống 130, sau một năm nữa xuống 110, sau một năm nữa xuống 90, sau một năm nữa xuống 70 nằm liệt giường si khờ ngây dại hết phá phách, ngủ li bì, cho rằng kết qủa tốt, mà theo đông y, bệnh nhân trở thành bệnh thiếu khí huyết trầm trọng, vô lực, mất ý thức, ngủ li bì, ăn không được, không cử động được, cuối cùng là chết êm đềm sau một giấc ngủ như ngọn đèn hết dầu, vì không theo dõi áp huyết xem tại loại thuốc nào đã làm áp huyết cứ tụt dần tụt dần, thì phải ngưng kịp thời.
  6. 6. Sở dĩ tôi giải thích dài dòng, để mọi người tự biết theo dõi khí huyết trong cơ thể bằng máy đo áp huyết là chính, mặc dù chữa theo bất kỳ một phương pháp nào như đông tây y, châm cứu day bấm huyệt, áp huyết phải trở lại bình thường theo tiêu chuẩn thì bệnh sẽ khỏi mà không để lại biến chứng di căn nào, lúc đó không cần phải chữa suốt đời, đông y gọi là chữa sai, bệnh thực làm thêm thực, bệnh hư càng làm thêm hư. Chữa đúng phải làm cho hết hư, hết thực trở lại bình thường thì không cần chữa nữa. Do đó những bệnh mà phải uống thuốc suốt đời sai với nguyên tắc này. B-Cách điều chỉnh Tinh-Khí-Thần Điều chỉnh Tinh : a-Chữa ngọn : Uống Acti-B12 hay thuốc bổ máu, ăn những chất tạo máu như củ dền đỏ, rau dền, súp thịt bò hầm, sò huyết, lẩu đồ biển, hải sâm, canh gà già gừng non…Kiêng ăn những chất chua như cam, chanh, bưởi, yaourt, kem, nước đá, đậu xanh, dưa giá, khổ qua…Tiếp tục ăn và uống thuốc cho đến khi áp huyết lên đúng tiêu chuẩn thì ngưng. b-Chữa gốc : Bổ tỳ vị thổ để dưỡng tâm hỏa, mạnh phế nuôi thận, kích thích ăn ngon, tăng tính hấp thụ và chuyển hóa thức ăn thành chất bổ, tăng máu, tăng dương khí, tăng hồng cầu…bằng sirop bổ máu Đương Quy Tửu (Tankwe-Gin) pha 2 muỗng canh lớn sirop với 1 ly nước nóng uống trước mỗi bữa ăn 5 phút, thuốc này giúp phụ nữ bổ máu điều kinh, sẽ không bị đau bụng kinh, và khi đến tuổi mãn kinh không bị ung thư tử cung, ngừa rụng tóc, mất trí nhớ, ngừa ung thư sọ não, ung thư máu. Nhiều phụ nữ tây phương gọi thuốc này là thuốc cứu mạng trong những bệnh nan y kể trên. Nếu phân chất thành phần theo tây y thì không có chất nào chữa những bệnh này, tây y sẽ cho rằng đông y quảng cáo láo lếu. Nhưng đông y không phân tích thành phần chất, mà chữa theo ngũ hành, nó là một chất xúc tác làm mạnh chức năng tỳ vị để tạo ra máu, ra khí, ra hormone từ tụy tạng, bổ thổ là mẹ của kim phế, phế mạnh sẽ nuôi thận tạo hormơne ở tuyến thượng thận, thận sẽ nuôi gan, gan sẽ cung cấp năng lượng cho tim tuần hoàn đúng và đủ, cuối cùng tâm hỏa mạnh, lại bảo vệ cho chức năng hoạt động của tỳ vị tốt hơn. Khí : Sau khi đã đủ máu, muốn vận chuyển máu đều khắp cơ thể, cần phải biết luyện khí, khí giúp máu tuần hoàn đúng và đủ, không chỗ nào thiếu, chỗ nào thừa. a-Chữa ngọn : Kích thích hệ thần kinh trung ương ở đầu và tủy sống, kích thích hệ thần kinh giao cảm và phản xạ (âm, dương) bằng 7 bài đầu của khí công.
  7. 7. b-Đưa máu lên nuôi não bằng bài Cúi Ngửa 4 Nhịp 20 lần, tăng cường trí nhớ, ngừa chóng mặt, xây xẩm, nhức đầu, rụng tóc, thông khí huyết nuôi cột sống, bổ sung khí huyết cho tủy. Tập nhiều lần trong ngày c-Đưa khí huyết xuống chân và ngón chân, làm mạnh chân bằng cách bấm những huyệt sát xương cẳng chân phía trong từ đầu gối xuống mắt cá chân trong, từ trên xuống dưới nhiều lần đến khi nào trông thấy các ngón chân có phản xạ nhúc nhích ngửa bàn chân lên, các ngón chân hồng lên là khí huyết đã xuống chân đủ, có thể đi lại có cảm giác, bài này chữa những bệnh chân yếu liệt. d-Chữa gốc bệnh : Đứng Hát Kéo Gối Lên Ngực 200 lần, làm tăng áp huyết, đưa áp huyết lên não, tăng hồng cầu, tăng dương khí, mạnh tay chân. e-Ngừa biến chứng để không bao giờ bị bệnh tật bằng bài Kéo Ép Gối Thở Ra Làm Mềm Bụng 200 lần, mục đính thông khí huyết lưu thông toàn thân, thông khí huyết các cơ quan nội tạng là lục phủ ngũ tạng để tế bào được trao đổi oxy làm trẻ hóa tế bào, loại độc tố, giúp chức năng hấp thụ chuyển hóa tốt, loại bỏ độc tố nhanh, mạnh lưng chân gối. f-Tập bài Dậm Chân Phía Trước Phía Sau/Chachacha 5-10 phút mỗi lần làm cho khí huyết nuôi chân, tăng cường trí nhớ, giữ cơ thể thăng bằng, quân bình âm dương. Nếu không buông tay tập được thì có thể vẫn tập như bài hướng dẫn nhưng tay vịn tường, vách, để có lòng tự tin, sau đó sẽ có những bước vững hơn. g-Tập Đứng Hạc Tấn Mở Mắt, vịn tường mỗi bên chân lâu 1 phút, để làm mạnh từng chân và giúp cho cơ thể điều chỉnh thăng bằng. g-Khi hết bệnh, tiếp tục tập toàn bài khí công mỗi ngày ít nhất 1 lần theo DVD hướng dẫn, để duy trì sức khỏe không bao giờ còn bệnh tật. Thần Trước khi đi ngủ 30 phút, nằm tập thở thiền ở Đan Điền Thần. Nhắm mắt, cuốn lưỡi, ngậm miệng, thở bằng mũi tự nhiên, nữ đặt bàn tay phải dưới mỏm xương ức gọi là Đan Điền Thần, bàn tay trái chồng lên trên bàn tay phải. Chỉ cần nằm nghe khí huyết chạy trong bụng, dưới bàn tay cảm nhận được, bụng sôi, nóng, nghe được khí chạy hay nhịp đập của mạch máu ở ổ bụng, cảm nhận được bàn tay từ từ nóng ấm, rịn mồ hôi, như vậy là tập đúng, nó giúp cho giảm đau tăng nhiệt, tăng máu, hồng cầu, an thần và ngủ ngon.
  8. 8. Mong cho cháu mau khỏi bệnh để tiếp tục đi học bình thường. Nhớ kiểm soát áp huyết thường xuyên để biết nếu thuốc nào hay cách ăn uống nào làm cho áp huyết xuống thì cách chữa đó sai, cần phải ngưng. Thân Doducngoc Tài liệu đính kèm : Những bệnh có thể uống được thuốc bổ máu Đương Quy Tửu (Tankwe gin) Bảy động tác đầu, gáy, cổ http://video.yahoo.com/watch/7803718/20655057 Cúi Ngửa 4 Nhịp http://video.yahoo.com/watch/7399166/19354270 Đứng Hát Kéo Gối Lên Ngực http://video.yahoo.com/watch/7399253/19354500 Kéo Ép Gối Thở Ra Làm Mềm Bụng http://video.yahoo.com/watch/7399268/19354562 Bài tập chân: Dậm Chân Phía Trước, Phía sau - Chachacha http://video.yahoo.com/watch/5178106/13692359 Hạc tấn mở mắt http://ca.video.yahoo.com/watch/7797097/20623812 Những bài tập động công trong lớp : http://ca.video.yahoo.com/watch/4688300/12529458 Thở Đan Điền Thần http://video.yahoo.com/watch/7399604/19355646 Bài đăng Mới hơnBài đăng Cũ hơnTrang chủ T Ì M K I Ế M B L O G N À Y
  9. 9. Tìm ki?m V I D E O S Video Chữa Từng Bệnh Trang Xem Videos Diện Chẩn Bấm Huyệt Thầy Lý Phước Lộc Sách điện tử Khí Công Trị Liệu Cách vỗ đập chân để chữa các bệnh thuộc chân Học ôn máy oxymeter, đo đường và nhiệt kế Học ôn Tinh Khí Thần Học ôn P1/2 Học ôn P2/2
  10. 10. HUYỆT: Cự Khuyết http://678.com.vn/cham-cuu/c/cu-khu... TÊN HUYỆT Huyệt ở chỗ lõm (khuyết) rất sâu (cự) của chấn thủy, vì vậy gọi là Cự Khuyết. TÊN KHÁC Cự Quyết. XUẤT XỨ Thiên ‘Kinh Mạch’ (Linh Khu 10). VỊ TRÍ Rốn thẳng lên 6 thốn, dưới huyệt Cưu Vĩ 1 thốn. ĐẶC TÍNH • Huyệt thứ 14 của mạch Nhâm. • Huyệt Mộ của Tâm. • Là nơi khí của Tâm hợp với mạch Nhâm. • Là huyệt quan trọng đối với những người bị ngất, phụ nữ có thai mà thai nằm lệch vị trí, thai dồn lên cao làm ép tim... TÁC DỤNG Hóa thấp trệ ở trung tiêu, thanh tâm, định thần, điều khí, lý khí, thông ở bên trong, hòa Vị, lợi cách. CHỦ TRỊ Trị bụng đau, nấc, nôn mửa, ợ chua, giữa ngực đau, điên cuồng, tim đập, kinh giật, hay quên. CHÂM CỨU Châm thẳng, sâu 0,5 – 2 thốn. Cứu 5 – 45 phút. GIẢI PHẪU
  11. 11. • Huyệt ở trên đường trắng, sau đường trắng là mạc ngang, phúc mạc, sau thành bụng là thùy gan trái. • Da vùng huyệt chi phối bởi tiết đoạn thần kinh D6. PHỐI HỢP HUYỆT 1.Phối Trúc Tân (Th 9) trị nói sảng (Thiên Kim Phương). 2.Phối Tâm Du (Bq 15) trị bồn chồn trong ngực (Tư Sinh Kinh). 3.Phối Thượng Quản (Nh 13) trị bụng trên sình trướng (Tư Sinh Kinh). 4.Phối Gian Sử (Tb 5)) trị phiền muộn (Tư Sinh Kinh). 5.Phối Đàn Trung (Nh 17) trị nôn mửa (Tư Sinh Kinh). 6.Phối Tâm Du (Bq 15) + Thiên Tỉnh (Ttu.10) trị hồi hộp (Châm cứu Đại Thành). 7.Phối Hợp Cốc (Đtr 4) + Tam Âm Giao (Ty 6) + Thương Khâu (Ty 5) trị nôn mửa, muốn nôn (Châm cứu Đại Thành). 8.Phối Nội Quan (Tb 6) + Tâm Du (Bq 15) trị tim đau, hồi hộp (Châm cứu Học Giản Biên). 9.Phối Tam Âm Giao (Ty 6) +Thần Môn (Tm.7) trị ngực khô ráo (Trung Quốc Châm cứu Học Khái Yếu). 10.Phối Âm Đô (Th 19) + Đại Cự (Ty 27) + Trung Quản (Nh 12) trị tim hồi hộp (Châm cứu Học Thượng Hải). 10.Phối Khích Môn (Tb 5) + Tâm Du (Bq 15) + Thông Lý (Tm.5) trị tim đau thắt (Châm cứu Học Thượng Hải). 12.Phối Phong Trì (Đ 20) thấu Phong Trì + Nội Quan (Tb 6) + Túc Tam Lý (Vi 36) trị tâm thần phân liệt (Châm cứu Học Thượng Hải). 13.Phối Đại Chùy (Đc 14) + Nhân Trung (Đc 26) + Nội Quan (Tb 6) + Yêu Kỳ trị động kinh (Châm cứu Học Thượng Hải). 14.Phối Khích Môn (Tb 4) + Tâm Du (Bq 15) + Thông Lý (Tm.5) trị vùng tim đau thắt (Châm cứu Học Việt Nam). Tâm DuTên Huyệt Tâm Du:Huyệt có tác dụng đưa kinh khí vào (du) tạng Tâm, vì vậy gọi là Tâm Du.Tên Khác:Bối Du, Cứu Lao.Xuất Xứ:Thiên ‘Bối Du’ (Linh khu.51).Đặc Tính Huyệt Tâm Du:Huyệt thứ 15 của kinh Bàng Quang.Huyệt Bối Du của kinh Thủ Thiếu Âm Tâm.Huyệt tả khí Dương ở Ngũ Tạng (T.Vấn.32 và L.Khu.51).Vị Trí Huyệt Tâm Du:Dưới gai sống lưng 5, đo ngang ra 1, 5 thốn.Giải Phẫu:Dưới da là cơ thang, cơ trám, cơ lưng dài, cơ bán gai của cổ, cơ ngang gai, cơ ngang sườn, vào trong là phổi.Thần kinh vận động cơ là nhánh của dây thần kinh sọ não số XI, nhánh đám rối cổ sâu, nhánh đám rối cánh tay, nhánh của dây thần kinh gian sườn 5 và nhánh dây sống lưng 5.Da vùng huyệt chi phối bởi tiết đoạn thần kinh D5.Tác Dụng Huyệt Tâm
  12. 12. Du:Dưỡng Tâm, an thần định chí, lý huyết, điều khí.Chủ Trị Huyệt Tâm Du:Trị bệnh về tim, tâm thần phân liệt, động kinh, thần kinh suy nhược.Phối Huyệt:1. Phối Cách Du (Bàng quang.17) + Can Du (Bàng quang.18) + Đại Trữ (Bàng quang.11) + Đào Đạo (Đc.13) + Ngọc Chẩm (Bàng quang.9) trị mồ hôi không ra, tay chân lạnh, sợ lạnh (Bị Cấp Thiên Kim Phương)2. Cứu Tâm Du (Bàng quang.15) 5 tráng + phối cứu Cự Khuyết (Nh.14) 20-30 tráng trị phong cuồng (Biển Thước Tâm Thư).3. Phối Can Du (Bàng quang.18) + Cự Khuyết (Nh.14) + Cưu Vĩ (Nh.15) + Khuyết Bồn (Vị 12) trị ho ra máu (Tư Sinh Kinh).4. Phối Đại Trữ (Đc.13) trị uất ức trong ngực (Tư Sinh Kinh).5. Phối Thần Đạo (Đc.11) + Thiên Tỉnh (Tam tiêu.10) trị bứt rứt, hoảng hốt (Tư Sinh Kinh).6. Phối Thần Môn (Tm.7) trị si ngốc (Loại Kinh Đồ Dực).7. Phối Thần Môn (Tm.7) + Thiếu Hải (Tm.3) trị hay quên (Châm Cứu Đại Thành).8. Phối Nội Quan (Tâm bào.6) + Thần Môn (Tm.7) trị hồi hộp (Châm Cứu Đại Thành).9. Phối Quan Nguyên (Nh.4) + Tam Âm Giao (Tỳ 6) + Thận Du (Bàng quang.23) trị di tinh, bạch trọc (Châm Cứu Đại Thành).10. Phối Thận Du (Bàng quang.23) trị tinh tiết nhiều (Ngọc Long Kinh ).11. Phối Thần Đạo (Đ.11) trị động kinh (Bách Chứng Phú).12. Phối Bạch Hoàn Du (Bàng quang.30) + Cao Hoang Du (Bàng quang.43) + Quan Nguyên (Nh.4)+ Trung Cực (Nh.3) trị di tinh, mộng tinh, tiết tinh (Y Học Cương Mục).13. Phối Phong Long (Vị 40) + Thần Môn (Tm.7) + Trung Quản (Nh.12) + Vị Du (Bàng quang.19) trị mất ngủ (Trung Hoa Châm Cứu Học).14. Phối Cự Khuyết (Nh.14) + Nội Quan (Tâm bào.6) + Thần Môn (Tm.7) trị hay quên, hồi hộp, lo sợ (Trung Quốc Châm Cứu Học Khái Yếu).15. Phối Can Du (Bàng quang.18) + Phong Long (Vị 40) + Thần Môn (Tm.7) + Tỳ Du (Bàng quang.20) trị điên (Tứ Bản Giáo Tài Châm Cứu Học).16. Phối Khúc Trì (Đại trường.11) + Nội Quan (Tâm bào.6) + Thái Uyên (Phế 9) + Xích Trạch (Phế 5) kích thích vừa, lưu kim không quá 15 phút, trị chứng vô mạch (Cấp Chứng Châm Cứu Trị Liệu Pháp).17. Phối Quan Nguyên (Nh.4) + Tam Âm Giao (Tỳ 6) + Thần Môn (Tm.7) + Thận Du (Bàng quang.23) trị di mộng tinh (Hiện Đại Châm Cứu Y Án Tuyển).18. Phối Dương lăng Tuyền (Đ.34) + Nội Quan (Tâm bào.6) + Thần Môn (Tm.7) trị nhịp tim bị rối loạn (Châm Cứu Học Thượng Hải).19. Phối Liệt Khuyết (Phế 7) + Thần Môn (Tm.7) + Thiếu Hải (Tm.3) trị lú lẫn, hay quên (Châm Cứu Học Thượng Hải).20. Phối Quan Nguyên (Nh.4) + Tam Âm Giao (Tỳ 6) + Thận Du (Bàng quang.23) trị di tinh (Châm
  13. 13. Cứu Học Thượng Hải).21. Phối Dương lăng Tuyền (Đ.34) thấu Âm Lăng Tuyền (Tỳ 9) + Nội Quan (Tâm bào.6) + Thần Môn (Tm.7) trị nhịp tim không đều.22. Phối Cự Khuyết (Nh.14) trị thần kinh suy nhược (Châm Cứu Học Thượng Hải). HỒI HỘP Thứ hai - 13/06/2011 04:29 Các loại rối loạn thần kinh thực vật và các loại bệnh tim dẫn đến nhịp tim không đều trong y học hiện đại, đều có thể xuất hiện chứng trạng Tâm quý.HỒI HỘP( Tâm Quý – Palpitation - Palpitation ) Hồi Hộp là một chứng trạng tự cảm thấy trong Tâm hồi hộp không yên, tục gọi là Tâm Khiêu. Sách Hồng Lô Điểm Tuyết viết: “Chứng Quý là chỉ vùng Tâm đột ngột rung động không yên, sợ sệt, trong Tâm trằn trọc không yên, sợ sệt như có người muốn bắt...”. Sách ‘Y Học Chính Truyền’ viết: "Chứng Kinh quý là chỉ đột ngột như sợ hãi, hồi hộp, trong Tâm không yên và có cơn từng lúc. Chứng Chinh xung là chỉ trong Tâm sợ sệt dao động không yên, có cơn liên tục" . . .Theo những quan điểm trên, nhân tố gây bệnh có khi do sợ hãi gây nên, có khi không do sợ hãi gây ra.Tiâm hồi hộp lúc có lúc không, gọi là Kinh quý, bệnh tương đối nhẹ. Không do hãi mà phát sinh, trong Tâm dao động không yên và cơn liên tục, gọi là Chinh xung, bệnh tình khá nặng. Nhưng chứng trạng lâm sàng, đều coi trong Tâm hồi hộp không yên là chính, gọi là Tâm quý.Các loại rối loạn thần kinh thực vật và các loại bệnh tim dẫn đến nhịp tim không đều trong y học hiện đại, đều có thể xuất hiện chứng trạng Tâm quý. Nguyên Nhân1 . Tâm Thần Không Yên: Sợ hãi đột ngột có thể dẫn đến tâm thần không yên. Thiên ‘Cử Thống Luận’ (TốVấn 39) viết: "Kinh thì Tâm không nơi dựa, thần không chốn về, lo lắng không được yên cho nên khí loạn" và "sợ thì khí nén xuống", "sợ thì thần khiếp".Kinh thì khí loạn, thần chí không yên cho nên Tâm kinh, thần dao động, hồi hộp không yên. Sợ (khủng) thì thương Thận, Thận hư yếu không giao thông được với Tâm khiến cho Tâm hồi hộp không yên.Ngoài ra, giận dữ đột ngột khí nghịch khiến cho Can mất chức năng điều đạt. Bệnh Can liên lụy đến Tỳ, Tỳ mất chức năng vận hóa, thì tinh vi thủy
  14. 14. cốc tụ lại thành đờm. Khí uất lại có thể hóa hỏa, đờm hỏa quấy rối Tâm thần cũng dẫn đến Tâm quý không yên.2. Tâm Huyết Bất Túc: Bị bệnh lâu ngày thân thể suy yếu hoặc mất máu quá nhiều, hao thương tâm huyết;Hoặc tư lự quá độ, mệt nhọc làm thương Tỳ, Tỳ mất chức năng kiện vận làm cho nguồn tạo nên huyết dịch bất túc, Tâm mất sự nuôi dưỡng, thần không tiềm tàng cho nên Tâm hồi hộp không yên. Sách ‘Đan Khê Tâm Pháp’ viết: "Chinh xung là do huyết hư, chinh xung liên tục, phần nhiều là do thiếu huyết”.3. Âm Hư Hỏa Vượng: Mắc bệnh lâu ngày, cơ thể suy nhược hoặc do bệnh nhiệt làm thương âm... đều cóthể dẫn đến Thận âm khuy tổn, tâm hỏa vọng động gây nên Tâm hồi hộp không yên.4. Phong Thấp Xâm Phạm: thiên ‘Tý Luận’ (Tố Vấn 43) viết: "Bị chứng Mạch tý không khỏi lại bị nhiễmngoại tà, ẩn náu trong Tâm" và “Chứng Tâm tý làm cho mạch máu không thông". Nói lên tà khí phong hàn thấp phạm huyết mạch ảnh hưởng tới Tâm ở trong, Tâm mạch bị nghẽn, doanh huyết vận hành không thông cho nên hồi hộp không yên.5. Dương Khí Suy Nhược: Sau khi bị bệnh lâu ngày, dương khí suy không làm ấm áp Tâm mạch, Tâmdương không mạnh cho nên hồi hộp không yên. Nếu dương hư nước ứ đọng thành chứng ẩm, ẩm tà phạm lên trên cũng làm cho hồi hộp không yên. Sách ‘Thương Hàn Minh Lý Luận’ viết: "Nói khí hư dương là dương khí hư nhược, dưới Tâm rỗng không động ở trong mà thành hồi hộp. Nếu ẩm ứ đọng là do thủy đọng ở dưới Tâm... Tâm không được yên sẽ thành Tâm quý".Triệu Chứng Lâm Sàng + Tâm Thần Không Yên: Tiâm hồi hộp, dễ kinh sợ, nằm ngồi không yên, ít ngủ hay mê, nói chung lưỡi vàmạch bình thường hoặc mạch thấy Hư Sắc.Biện chứng: Hãi thì khí loạn, sợ thì khí hạ, đến nỗi Tâm không thể chứa thần, phát sinh chứng tim hồi hộp, ít ngủ hay mê. Mạch Hư Sắc là dấu hiệu tâm thần không yên. Bệnh nhẹ thì lúc phát lúc ngừng; Loại nặng thì Tâm sợ sệt, thần rối loạn, hồi hộp không yên, không tự chủ được.Điều trị: Trấn kinh an thần. Dùng bài An Thần Định Chí Hoàn gia giảm.(Trong bài có Nhân sâm, Long xỉ để bổ khí trấn kinh; Phục thần, Viễn chí, Xương bồ an thần hóa đờm làm thuốc hỗ trợ).Cũng có thể dùng các vị như Từ thạch, Mẫu lệ, Táo nhân, Bá tử nhân để trấn kinh an thần. Nếu Tâm hồi hộp mà phiền, ăn kém, muốn nôn, rêu lưỡi vàng nhớt, mạch Hoạt Sắc là bệnh kiêm có đờm nhiệt quấy rối ở trong, Vị mất chức năng hòa giáng, có thể thêm Bán hạ, Trần bì, Trúc nhự. Nếu sắc mặt kém tươi, mệt mỏi, chất lưỡi nhạt, có thể luận trị theo thể Tâm huyết bất túc.2) Tâm
  15. 15. Huyết Bất Túc: Tim hồi hộp, choáng váng, sắc mặt kém tươi, móng chân tay nhạt, tay chân khôngcó sức, chất lưỡi đỏ nhạt, mạch Tế.Biện chứng: Tâm chủ huyết mạch, vinh nhuận ra mặt, huyết hư không nuôi được Tâm gây nên chứng Tâm quý, không tưới nhuận lên đầu mặt gây ra chóng mặt và sắc mặt không tươi. Huyết hư không làm ấm áp tay chân cho nên móng chân xanh nhợt, tay chân không có sức. Chất lưỡi đỏ nhạt, mạch Tế. . . đều là dấu hiệu khí huyết bất túc.Điều trị: Ích khí bổ huyết, dưỡng tâm an thần. Dùng bài Quy Tỳ Thang gia giảm.(Trong bài có Sâm, Kỳ, Truật, Thảo để ích khí kiện Tỳ, tăng cường nguồn sinh ra huyết; Đương quy, Long nhãn nhục để dưỡng huyết, Táo nhân, Viễn chí để an thần, Mộc hương hành khí, khiến cho bổ mà không bị trệ).Nếu tâm động hồi hộp mà mạch Kết Đại là huyết không nuôi Tâm, kèm theo Tâm dương mạnh, huyết dịch tuần hành không thư sướng gây nên, cho uống Chích Cam Thảo Thang gia giảm để dưỡng Tâm thông mạch theo phép song bổ cả khí và huyết.3) Âm hư hỏa vượng: Hồi hộp không yên, tâm phiền, ít ngủ, chóng mặt, hoa mắt, tai ù mỏi lưng, lưỡi đỏ ítrêu, mạch Tế Sác.Biện chứng: Thận âm bất túc, Tâm hỏa vượng, gây nên chứng tâm quý, phiền táo, ít ngủ, âm suy thì ở dưới mỏi lưng, Dương quấy rối ở trên thì hoa mắt, chóng mặt ù tai; chất lưỡi đỏ, ít rêu, mạch Tế Sác... đều là đặc trưng của âm hư hỏa vượng.Điều trị: Dục âm thanh hỏa. Dùng bài Hoàng Liên A Giao Thang gia giảm.(Trong bài có Hoàng liên, Hoàng cầm để thanh Tâm hỏa; A giao, Thược dược, Kê tử hoàng để nuôi âm huyết). Thêm Đan sâm, Trân châu mẫu v.v... để tăng sức an thần, bớt kinh sợ. Nếu âm hư mà hỏa không vượng, có thể dùng Thiên Vương Bổ Tâm Đơn.(4) Phong Thấp Xâm Phạm: Hồi hộp, hơi thở ngắn, ngực đau hoặc khó chịu, hai gò má đỏ tía, thậm chí môi và móng tay chân tím tái hoặc ho suyễn khạc ra máu, chất lưỡi xanh nhợt hoặc có nốt ứ huyết, mạch Tế hoặc Kết Đại.Biện chứng: Bệnh Tý chữa không khỏi, truyền vào trong Tâm làm cho huyết mạch bị nghẽn, Tâm mất sự nuôi dưỡng nên hồi hộp không yên. Khí trệ huyết ứ, Tâm dương bị uất, khiến cho ngực khó chịu hoặc ngực đau và hơi thở ngắn. Nếu chứng Tý làm nghẽn lạc mạch, Phế mất túc giáng thì ho suyễn, nặng hơn thì tổn thương Phế lạc cho nên khạc ra máu. Hai gò má đỏ tía hoặc môi và móng tay chân tím tái, lưỡi có nốt ứ huyết, mạch Kết Đại đều là dấu hiệu Tâm dương không mạnh, ứ huyết tích đọng gây nên.Điều trị: Hoạt huyết hóa ứ, trợ dương thông mạch. Dùng bài Đào Nhân Hồng Hoa Tiễn gia giảm.(Dùng Đào nhân, Hồng hoa, Đan
  16. 16. sâm, Đương quy để hoạt huyết hóa ứ là chủ yếu; Huyền hồ, Xuyên khung, Hương phụ làm thuốc hỗ trợ).Có thể thêm Quế chi, Cam thảo để thông Tâm dương; Long cốt, Mẫu lệ để trấn tâm thần. Trong bài có Sinh địa, nếu muốn tập trung vào thông Dương thì không nên dùng. Nếu ho suyễn khạc ra máu, đơn thuốc trên bỏ Xuyên khung, Hương phụ, thêm Tô tử, Trầm hương, Sâm Tam thất để thuận khí chỉ huyết.(5) Dương Khí Suy Nhược: Tim hồi hộp không yên, thở suyễn, ngực khó chịu, thân thể ớn lạnh, chân taylạnh, phù toàn thân, tiểu không lợi, chất lưỡi nhợt, rêu lưỡi trắng, mạch Vi Tế hoặc Kết Đại.Biện chứng: Dương khí trong ngực bất túc, thủy khí bốc lên tâm gây nên hồi hộp, ngực khó chịu mà thở suyễn; thậm chí Thận dương suy vi không làm ấm áp tay chân, cho nên người ớn lạnh, tay chân lạnh. Vì dương hư nên nước trào lên, Bàng quang khí hóa không lợi, cho nên phù toàn thân, tiểu không lợi. Chất lưỡi nhợt bệu, rêu lưỡi trắng, mạch Vi Tế hoặc Kết Đại, đều là dấu hiệu Tâm Thận dương suy, huyết mạch ngưng trệ gây nên.Điều trị: Ôn vận dương khí, hành thủy giáng nghịch. Dùng bài Chân Vũ Thang gia giảm.(Trong bài dùng Phụ tử, Sinh khương chủ yếu để ôn dương tán hàn, phối hợp với Phục linh, Bạch truật kiện Tỳ lợi thủy làm thuốc hỗ trợ).Có thể thêm Nhục quế, Trạch tả, Xa tiền để tăng cường sức ôn Thận hành thủy. Nếu suyễn không nằm được có thể thêm Hắc Tích Đan để ôn phận nạp khí và bình suyễn. CHÂM CỨU TRỊ HỒI HỘP + “Kinh sợ hồi hộp, thiếu khí, huyệt Cự khuyết làm chủ” (Giáp Ất Kinh).+ Tâm Âm Huyết Hư: Tư bổ Tâm huyết. Châm Tâm du, Cự khuyết, Cách du, Thần môn. Hợp với Phế du [nếu hơi thở ngắn] (Tâm du, Cự khuyết phối hợp theo cách Mộ – Bối du, có khả năng điều bổ khí huyết của kinh Tâm; Cách du bổ huyết dưỡng Tâm; Thần môn ninh Tâm an thần; Phế du bổ Phế khí. Khí huyết sung túc bệnh sẽ tự khỏi) .Tâm Dương Khí Hư:: Bổ ích Tâm dương. Châm Tâm du, Cự khuyết, Nội quan, hợp với Mệnh môn (Tâmdu, Cự khuyết phối hợp theo cách Mộ – Bối du, có khả năng điều bổ Tâm khí, thông Tâm dương; Nội quan là huyệt Lạc của Tâm bào để điều lý kinh khí của kinh Tâm, an tâm thần Mệnh
  17. 17. môn bổ chân dương của Thận để ôn các tạng).Tâm Tỳ Hư Nhược: Bổ ích Tâm tỳ. Châm Tâm du, Tỳ du, Thần môn. Thêm Túc tam lý, Tam âm giao (Tâmdu điều bổ Tâm khí; Tỳ du hợp với Túc tam lý để kiện Tỳ Vị, nuôi nguồn sinh hóa; Thần môn là huyệt Nguyên của kinh Tâm để điều lý kinh khí của kinh Tâm, an tâm thần; Tam âm giao điều lý khí của Can, Tỳ, Thận, điều hòa âm dương, trị mất ngủ).Thận Âm Hư: Tư bổ Thận âm. Châm Khích môn, Thận du, Thái khê, Tam âm giao, Phục lưu (Khích môn an tâm thần; Thái khê, Thận du bổ thận thủy nhằm chế ngực tướng hỏa; Phục lưu bổ Thận âm; Tam âm giao điều hòa âm dương, giao thông Tâm Thận. Tâm Thận tương giao thi bệnh khỏi.Đờm Ẩm: Ôn dương quyên ẩm. Châm Tỳ du, Túc tam lý, Tam tiêu du. Thêm Phong long, Thần môn (Tỳ du, Túc tam lý kiện Tỳ Vị, giúp vận hóa, trừ đờm ẩm; Tam tiêu du sơ lợi khí của Tam tiêu, thông điều thủy đạo để trừ thấp tà; Phong long hòa Vị hóa đờm; Thần môn ninh Tâm, an thần, trị hồi hộp.+ Tâm Hư Đởm Khiếp: Bổ ích Tâm khí, ích Đởm, chỉ quý.Châm Tâm du, Đởm du, Thần môn, Túc tam lý, Khâu hư.Dùng bổ pháp. Lưu kim 25 phút. Huyệt Tâm du và Đởm du, sau khi châm, kết hợp giác. Cách ngày châm một lần, 10 lần là một liệu trình.(Tâm du, Thần môn là phép kết hợp Bối du và Nguyên huyệt để an tâm thần, ích tâm khí; Đởm du, Khâu hư là phép kết hợp Bối du và Nguyên huyệt để trấn kinh, ninh thần; Túc tam lý ích khí điều huyết) (Bị CấpChâm Cứu).+ Tâm Tỳ Khí Hư: Bổ ích Tâm Tỳ, ninh Tâm, làm cho hết hồi hộp.Châm huyệt Tâm du, Tỳ du, Thần môn, Nội quan, Túc tam lý.Dùng bổ pháp. Lưu kim 25 phút. Huyệt Tâm du và Đởm du, sau khi châm, kết hợp giác. Cách ngày châm một lần, 10 lần là một liệu trình.(Tâm du, Thần môn là phép kết hợp Bối du và Nguyên huyệt để an tâm thần, ích Tâm khí; Tỳ du là bối du huyệt của Tỳ kinh để ích khí kiện Tỳ; Nội quan là huyệt Lạc của Tâm bào kinh có tác dụng ninh tâm thần; Túc tam lý điều hòa các huyệt để ích khí dưỡng Tâm, làm cho hết hồi hộp) (Bị Cấp Châm Cứu).+ Âm Hư Hỏa Vượng: Tư âm, giáng hỏa, ninh tâm, làm cho hết hồi hộp.Châm Tam âm giao, Thần môn, Thái khê, Thủy tuyền, Thái bạch, Nội quan.Châm bình bổ bình tả, lưu kim 25 phút. Cách ngày châm một lần, 10 lần là một liệu trình.(Thái khê là Nguyên huyệt của kinh Thận, Thủy tuyền là Khích huyệt cua kinh Thận, phối hợp hai huyệt này có tác dụng bổ ích Thận thủy để giao với Tâm hỏa; Tam âm giao nơi hội của 3 kinh âm để tư âm giáng hỏa; Thái bạch là Nguyên huyệt của kinh Tỳ lấy kiện Tỳ để giúp Thận thủy vận hành; Thần
  18. 18. môn, Nội quan để an thần, làm cho hết hồi hộp) (Bị Cấp Châm Cứu).+ Tâm Huyết Ứ Trở: Hoạt huyết, khứ ứ, làm cho hết hồi hộp.Châm Khúc trạch, Thiếu hải, Khí hải, Cách du.Châm bình bổ bình tả, lưu kim 20 phút. Mỗi ngày châm một lần, 10 lần là một liệu trình.(Tâm bào là màng bảo vệ Tâm, vì vậy dùng hợp huyệt của hai đương kinh là Khúc trạch và Thiếu hải để cường Tâm, định quý, chỉ thống, để trị tiêu. Tâm khí suy yếu thì huyết vận hành không thoải mái khiến cho Tâm mạch bị ngăn trở, Tâm dương bất chấn, vì vậy châm Khí hải để vận dương, ích khí; Cách du để hoạt huyết hóa ứ, để trị bản) (Bị Cấp Châm Cứu).+ Thủy Khí Xâm Lấn Tâm: Ôn Thận, hành thủy, ninh tâm, làm cho hết hồi hộp.Châm Thận du, Thái khê, Linh đạo, Khích môn, Phế du, Xích trạch, Phong long.Châm bình bổ bình tả, lưu kim 20 phút. Cách ngày châm một lần. 10 lần là một liệu trình.(Thái khê là Nguyên huyệt của kinh Thận, hợp với bối du huyệt (Thận du) để ôn Thận thủy; Linh đạo, Âm khích để an thần, làm cho hết hồi hộp.; Xích trạch, Phế du tuyên Phế, chỉ suyễn; Phong long hòa trung, hóa đờm, khiến cho đờm tiêu, khí giáng, hết ho suyễn, hồi hộp) (Bị Cấp Châm Cứu).+ Tâm Dương Hư Nhược: Bổ ích Tâm dương, ninh Tâm, làm cho hết hồi hộp.Châm Thần môn, Nội quan, Tâm du, Cự khuyết, Đàn trung, Quan nguyên.Châm bổ. Huyệt Tâm du sau khi châm kết hợp thêm giác. Quan nguyên sau khi châm thêm cứu. Lưu kim 25 phút. Cách ngày châm 1 lần, 10 lần là một liệu trình.(Thần môn là huyệt Nguyên của kinh Tâm, để ninh Tâm, an thần, làm cho hết hồi hộp; Nội quan là bát hội huyệt trị bệnh ở Phế, tâm và ngực, điều hòa khí cơ, hoạt huyết, chỉ thống; Tâm du, Cự khuyết là cách phối bối du huyệt với Mộ huyệt để điều bổ Tâm khí; Đàn trung là bát hội huyệt có khả năng bổ ích Tâm khí; Quan nguyên ôn bổ nguyên dương) (Bị Cấp Châm Cứu). + Lấy huyệt Thần môn hai bên, châm thẳng 0,3-0,5 thốn, kích thích vừa, lưu kim 30 phút, 10 phút vê kim một lần. Ngày một lần. Thường châm 3-5 lần là có kết quả (Trung Hoa Bí Thuật Châm Trị). Tham Khảo+ Dùng Cự châm trị 32 ca hồi hộp. Tâm Dương Hư dùng Tâm du, Tỳ du, Túc tam lý, Thần môn. Tâm Âm Hư châm Thượng tinh xuyên đến Bá hội, Nội thừa tương, Tỳ du, Cách du, Túc tam lý, Thần môn. Kích thích vừa, lưu kim 20-30 phút. Mỗi ngày châm một lần. Kết quả: khỏi hoàn toàn 12, kết quả ít 20 (Châm Cứu Học Báo 1990, 6).+ Châm trị tim đập không đều: dùng huyệt Nội quan, Túc tam lý cả hai bên. Tâm Tỳ đều hư thêm Tỳ du, Tâm du hoặc Thần môn. Tâm khí âm hư thêm Tam âm giao hoặc
  19. 19. Quyết âm du. Tâm Phế khí hư thêm Phế du, Liệt khuyết. Khí hư huyết ứ thêm Quan nguyên. Kích thích vừa, lưu kim 20-30 phút, cứ 5-10 phút vê kim một lần. 1-2 ngày châm một lần. 10 lần là một liệu trình. Kết quả: Hiệu quả ít (sau 2 liệu trình các chứng mới khỏi): 19, có kết quả 11, không kết quả 2 (Thượng Hải Châm Cứu Tạp Chí 1990, 9). Nhĩ Châm Chọn huyệt Tâm, Thần môn, Giao cảm, Bì chất hạ, Tiểu trường, Ngực, Tỳ, Can huyết cơ điểm. Dùng phương pháp dán thuốc lên huyệt. Cách ngày dán một lần, 10 lần là một liệu trình. (Bị Cấp Châm Cứu). Nói tóm lại, Tâm rung động hồi hộp mạch Kết Đại, thậm chí suyễn thở toàn thân phù thũng, tiểu tiện không lợi... đều là chứng nặng. Vì Tâm Thận dương khí suy yếu, huyết mạch ngưng trệ, thủy đạo không lợi, bệnh tình khá nghiêm trọng so với loại tim hồi hộp do khí huyết bất túc và âm hư hỏa vượng khác nhau nhiều. Phong thấp xâm phạm vào cơ thể mà gây bệnh cũng thường gặp trong lâm sàng, cần chú ý chẩn đoán và điều trị sớm, chủ yếu là nuôi dưỡng Tâm khí, ngăn ngừa con đường xâm nhập của bệnh tà, không nên dùng đơn thuần thuốc Khư phong hoạt huyết . Bệnh Án Hồi Hộp Huyết Áp Cao(Trích trong ‘Trung Y Lâm Sàng Chẩn Liệu Bách Khoa Toàn Thư’) Dương X nam, 53 tuổi. Thường hồi hộp sợ sệt, chóng mặt, hoa mắt, mất ngủ, ba tháng nay bệnh nặng thêm, có lúc sợ hãi, hồi hộp, nặng hơn thì hồi hộp không ngừng, nhiều đờm, kém ăn.Khám: Thể trạng béo bệu, nhịp tim đều, mỏm tim đập có lực, vùng hai chủ động mạch có tiếng vang kim loại, huyết áp 160/100mgHg, rêu lưỡi trắng nhớt, mạch Huyền.Chẩn đoán: Tâm quý (bệnh Cao huyết áp).Điều trị: Bình Can ôn đởm, hóa đờm, an thần. Dùng: Khương bán hạ 12g, Trần bì 6g, Chỉ thực (sao) 6g, Trúc nhự 12g, Phục linh 12g, Long cốt (sắc trước) 20g, Mẫu lệ (sắc trước) 40g, Chế nam tinh 6g, Chích cam thảo 4g, Từ Chu Hoàn 12g (uống với thuốc sắc). Sau khi uống liên tục 10 thang, các chứng kinh sợ hồi hộp khỏi hết, thần trí ổn định.- Nhận xét. Bệnh này do sợ hãi gây nên đến nỗi Tâm thần không yên, Can dương cùng với đờm quấy rối xuất hiện các chứng hồi hộp, chóng mặt, mất ngủ, đờm nhiều, kém ăn, do đó dùng Ôn Đởm Thang thêm Long cốt, Mẫu lệ, Từ Chu Hoàn để trấn tâm anthần, tiềm dương, hóa đờm. Bệnh Án Chinh Xung(Trích trong ‘Trung Y Lâm Sàng Chẩn Liệu Bách Khoa Toàn Thư’). Tôn X, nữ, 39 tuổi.Bệnh sử: Khi Tâm quý nặng thì hồi hộp, bệnh đã 6 năm, nửa tháng nay liên tục bị hồi hộp, chóng mặt, hoa mắt, miệng khô, họng ráo, tai ù, mỏi lưng, đêm ít ngủ.- Khám: Thể trạng cao gầy, hình dung tiều tụy,
  20. 20. nhịp tim đều, 80 lần/phút. Hai bên Phổi sáng, Gan dưới hạ sườn 1 khoát, mềm, không đau, chất lưỡi đỏ, mạch Tế Sác.Chẩn đoán: Tâm quý (bệnh thần kinh).Điều trị: Tư âm thanh hỏa, trấn tâm an thần. Cho uống: Thục địa 16g, Sơn thù 12g, Sinh địa 16g, Xuyên liên 4g, Kỷ tử 12g, Phục thần 16g, Từ thạch (sắc trước) 40g, Đương qui 12g. Sau khi uống 7 thang, hết triệu chứng chinh xung. Sau khi uống hết 10 thang, chứng Tâm quý giảm rõ rệt.Nhận xét: Bệnh này do Thận âm bất túc không giúp lên Tâm hỏa ở trên; Tâm hỏa vượng thịnh không giáng xuống được đến nỗi gây nên chứng tâm quý, chinh xung. Điều trị: nên tư Thận âm, thanh Tâm hỏa. Là một loại hình gặp nhiều trong lâm sàng. Bệnh Án Tâm Quý(Trích trong ‘Trung Y Lâm Sàng Chẩn Liệu Bách Khoa Toàn Thư’). Chu X, nam, 18 tuổi. Có bệnh sử thấp tim từ nhỏ, năm gần đây hễ cử động nặng là hồi hộp không yên.- Khám thấy sắc mặt tối sạm, môi và móng tay chân tím tái nhẹ, vùng trái ngực hơi gồ, mỏm tim ở rãnh sườn 6 về phía ngoài 1,5cm có rung động, có tiếng thổi tâm thu, nhịp tim không đều, 84 lần/phút, Gan dưới hạ sườn 1 khoát, chi dưới hơi phù, chất lưỡi có nốt ứ huyết nhỏ, rêu lưỡi mỏng, mạch Kết Đại, XQ lộ rõ Phế động mạch, tâm thất trái dãn to hướng bên phải, hai Phổi có hình tụ huyết nhẹ. Điện tâm đồ: Trục xoay bên trái, Tâm thất trái dãn to.Chần đoán: Bệnh Tâm Tý (thấp tim, hẹp và hở van hai lá)Phép trị: Hoạt huyết hóa ứ, ích khí thông dương, dưỡng tâm trấn thần. Cho uống Đào nhân 12g, Quế chi 12g, Hồng hoa 6g, Đảng sâm 16g, Đan sâm 16g, Phục thần 16g, Táo nhân 6g, Long cốt (sắc trước) 20g, Mẫu lệ (sắc trước) 40g. Sau khi uống 10 thang, chứng Tâm quý giảm rõ rệt, nhịp tim 78 lần/phút.Nhận xét: Bệnh Tâm Tý, mạch không thông, khí huyết bị nghẽn thì trệ mà thành ứ, làm cho Tâm không được nuôi dưỡng, do đó sử dụng phép hoạt huyết hóa ứ. Tâm dương không mạnh mà thấy mạch Kết Đại, cho nên dùng phép ích khí không dương; lại thêm các vị dưỡng Tâm trấn thần. CUỒNG Thứ hai - 13/06/2011 05:05
  21. 21. Cuồng là loại bệnh do ngũ chí quá mức hoặc do tiên thiên di truyền, làm cho đờm hỏa ủng thịnh, bế tắc tâm khiếu, thần cơ bị hỗn loạn dẫn đến tinh thần thác loạn...CUỒNG Cuồng là loại bệnh do ngũ chí quá mức hoặc do tiên thiên di truyền, làm cho đờm hỏa ủng thịnh, bế tắc tâm khiếu, thần cơ bị hỗn loạn dẫn đến tinh thần thác loạn, cuồng táo không yên, dễ tức giận thậm chí có thể giết người.Thanh niên và tráng niên bị bệnh nhiều hơn.Thiên ‘Chí Chân Yếu Đại Luận’ (Tố Vấn 74) viết : “Các chứng táo cuồng dại đều thuộc về hỏa”.Thiên ‘Bệnh Năng Luận’ (Tố Vấn 46) viết: “Có người bị bệnh cuồng nộ, do đâu mà có? Kỳ Bá đáp: Do dương khí sinh ra. Hoàng Đế hỏi: Làm sao dương có thể làm cho người ta bị cuồng? Kỳ Bá đáp: Dương khí vì đè nén, không phát lên được, thành ra chứng cuồng nóä. Bệnh đó gọi là Dương quyết…”.Thiên ‘Dương Minh Mạch Giải’ (Tố Vấn 30) viết : “Có chứng bệnh nặng, cởi bỏ áo mà chạy, trèo lên nơi cao mà hát, hoặc có khi không ăn tới vài ngày, lại trèo qua tường, leo lên nóùc nhà. Những nơi leo trèo đó, đều không phải những nơi mà lúc không bệnh có thể trèo lên được”.Thiên ‘Điên Cuồng’ (Linh Khu 22) viết: “Khi bệnh cuồng bắt đầu sinh ra, trước hết bệnh nhân thấy buồn, thường hay quên, giận dữ, lo sợ, tất cả đều do lo lắng và đói… Bệnh cuồng bắt đầu phát ra thì bệnh nhân ít nằm, không đói, tự cho mình là người hiền ở trên cao, tự coi mình là người trí, tự cho mình là tôn quý, thường hay mạ lỵ người khác ngày đêm không nghỉ… Bệnh mà cuồng ngôn, kinh sợ, hay cười, thích ca hát, thường hay đi lang thang, đó là do quá khủng khiếp, quá sợ…”.Tương ứng chứng tâm thần thể hưng phấn. Nguyên Nhân+ Do Âm Dương Không Điều Hòa: Do âm dương mất chức năng bình hoành, không tương giao lẫn nhau, âm hư đi xuống còn dương thịnh bốc lên, tâm thần bị xáo trộn, thần minh nghịch loạn gây nên.. Tình Chí Uất Ức: Thường hay giận dữ, sợ hãi làm tổn thương Can Thận hoặc thích giận dữ làm cho Tâm dương bị hao tổn, âm dịch của Can Thận bị bất túc mộc (Can) không được nhu nhuận. Hoặc Tâm âm bất túc, Tâm hỏa bùng lên. Hoặc ước muốn mà không được thỏa mãn, suy nghĩ quá sức làm tổn thương tâm thần, tâm thần không được nuôi dưỡng, thần không làm chủ được. Hoặc âm của Tỳ Vị bị tổn thương, nhiệt ở Vị nhiều quá khiến cho hỏa của Can và Tâm bốc lên khiến cho thần minh bị nghịch loạn gây nên điên cuồng.+ Do Đờm Trọc Đưa Lên Trên che lấp thanh khiếu, che lấp tâm thần khiến cho thần chí nghịch loạn gây nên điên cuồng.+ Do Di Truyền: Tức là nhiễm độc từ trong thai như quá
  22. 22. kinh sợ làm cho thai khí bị ảnh hưởng, mất chức năng thăng giáng, âm dương mất quân bình khiến cho tiên thiên không đủ, não và thần bị hư tổn, sau khi sinh ra, khí cơ bị nghịch loạn , thần cơ hỗn loạn gây nên bệnh.Triệu ChứngTrên lâm sàng thường gặp:+ Đờm Hỏa Nhiễu Tâm: Bệnh phát nhanh, hai mắt dữ tợn, giận dữ, mặt đỏ, mắt đỏ, lúc cười, lúc hát, nói sàm, có khi cởi quần áo ra, đánh đập người khác, đập phá, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng dầy, mạch Hoạt Sác.Điều trị:. Tả Can, chấn Tâm, tả hỏa, thông đờm. Dùng bài Giản Chứng Chấn Tâm Thang: Ngưu bàng tử, Viễn chí, Linh dương giác, Mạch môn đều 12g, Chân châu mẫu 40g, Hoàng liên 10g, Xương bồ, Toan táo nhân đều 8g, Cam thảo, Đởm tinh, Phục thần đều 6g. Sắc, hòa với 4g bột Thần sa, uống (Tân Biên Trung Y Học Khái Yếu).. Thanh tiết Can hỏa, địch đờm, tỉnh thần. Dùng bài Thôi Thị Sinh Thiết Lạc Ẩm.(Sinh thiết lạc bình Can trọng trấn, giáng nghịch, tiết hỏa; Câu đằng vị ngọt, hơi hàn, không độc trừ nhiệt ở Tâm, bình Can phong, tiết hỏa; Đởm tinh, Bối mẫu, Quất hồng địch đờm, hóa trọc; Xương bồ, Viễn chí, Phục thần, Thần sa tuyên khiếu, ninh Tâm, phục thần; Thiên môn, Mạch môn, Huyền sâm, Liên kiều dưỡng âm thanh nhiệt, hóa ứ, giải độc).Nếu đờm hỏa nhiều mà rêu lưỡi vàng bệu có thể dùng Mông Thạch Cổn Đờm Hoàn để trục đờm, tả hỏa. Hoặc dùng An Cung Ngưu Hoàng Hoàn để thanh Tâm, khai khiếu. Nếu thần trí còn tỉnh, dùng Ôn Đởm Thang hợp với Chu Sa An Thần Hoàn làm chính (Trung Y Nội Khoa Học).+ Hỏa Thương Âm: Sau cơn kịch phát, chứng cuồng lâu ngày cơn có dịu hơn, người bệnh mỏi mệt nhưng còn nói nhiều, gầy ốm, mặt đỏ, miệng khô, chất lưỡi đỏ, rêu ít, mạch Tế Sác.Điều trị: Tư âm, giáng hỏa, an thần, định chí. Dùng Cam Mạch Đại Táo Thang: Tiểu mạch, Mạch môn , Đại táo đều 12g, Sơn thù, Bạch thược, Bán hạ (chế), Cam thảo đều 8g, Trúc lịch 12ml. Sắc xong hòa với Trúc lịch uống (Tân Biên Trung Y Học Khái Yếu).. Dùng Nhị Âm Tiễn hợp Định Chí Hoàn gia giảm (Sinh địa, Mạch môn, Huyền sâm để dưỡng âm, thanh nhiệt, hóa ứ; Hoàng liên, Mộc thông, Trúc diệp, Đăng tâm tả Tâm hỏa, thanh Tâm, an thần; Phục thần, Toan táo nhân, Cam thảo dưỡng Tâm, an thần, định chí. Dùng chung với Định Chí Hoàn có tác dụng ích khí, an thần, hóa đờm (Trung Y Nội Khoa Học).+ Đờm Kết Huyết Ngưng: Bị cuồng lâu ngày không khỏi, da mặt tối như tro, nói nhiều, giận dữ, ca hát, trèo lên cao, vong tưởng, vong thính, đầu đau, kinh sợ, lưỡi đỏ tối, có nốt ứ huyết, có ít rêu hoặc rêu lưỡi khô, hơi vàng, mạch Huyền Tế hoặc Tế Sáp.Điều trị: Cổn đờm, hóa
  23. 23. ứ. Dùng bài Điên Cuồng Mộng Tỉnh Thang.(Trong bài dùng Đào nhân để lấy vị đắng để hoạt huyết, vị ngọt, hoãn để ích Can sinh huyết, trục ứ, nhuận táo, làm quân; Xích thược tán tà, hành huyết trệ, phá ứ huyết; Sài hồ bình tướng hỏa ở Can, Đởm, Tam tiêu và Tâm bào, thăng thanh dương, tán kết khí, tuyên thư khí huyết; Đại phúc bì hạ khí, khoan trung; Trần bì đạo đờm, tiêu trệ, lợi thủy, giải uất, trừ phiền; Thanh bì sơ Can Đởm, tả Phế khí, phá kiên tích, tán trệ khí tích kết; Tô tử hành khí, khoan trung, khai Vị, ích Tỳ; Tang bì giáng khí, tán huyết, tả Phế hỏa, khứ thủy khí, lợi thủy đạo; Bán hạ tiêu trừ hàn đờm ứ kết, bản chất của nó hoạt có thể thắng táo, vừa tẩu vừa tán, hòa Vị, kiện Tỳ, trừ thấp, hóa đờm, là thuốc chủ yếu để hạ nghịch khí, thấp đờm, làm thần; Cam thảo dùng sống để tả Tâm hỏa, hoãn cấp, điều hòa các vị thuốc, làm thông 12 đường kinh, giải độc, làm tá; Mộc thông giáng Tâm hỏa, thanh Phế nhiệt, thông lợi cửu khiếu, huyết mạch, quan tiết, trừ phiền nhiệt, làm sứ (Trung Y Nội Khoa Học).+ Huyết Ứ Trở Khiếu: Ngủ ít, kinh sợ, hoang tưởng, vong nhĩ, vong ngôn, sắc mặt u tối, lưỡi xanh tím hoặc có nốt ban, rêu lưỡi trắng nhuận, mạch Tiểu, Huyền hoặc Tế Sáp.Điều trị: Sơ ứ thông khiếu. Dùng bài Định Cuồng Trục Ứ Thang.(Trong bài dùng Đan sâm, Xích thược, Đào nhân, Hồng hoa, Hổ phách (tán nhuyễn), Đại hoàng để hóa ứ, thông lạc; Thạch xương bồ, Uất kim khai thông cơ khiếu; Sài hồ, Uất kim, Hương phụ sơ Can, giải uất (Trung Y Nội Khoa Học).+ Tâm Thận Thất Điều: Bị cuồng lâu ngày, lúc phát lúc không, lúc nhẹ lúc nặng, nói xàm, khó ngủ, ngủ không yên, phiền nhiệt, miệng khô, táo bón, đầu lưỡi đỏ, không rêu hoặc có vết nứt, mạch Tế Sác.Điều trị: Dục âm, tiềm dương, giao thông Tâm Thận. Dùng bài Hoàng Liên A Giao Thang hợp với HổPhách Dưỡng Tâm Đơn`.(Trong bài dùng Hoàng liên, Ngưu hoàng, Hoàng cầm thanh Tâm tả hỏa; Sinh địa, A giao, Quy thân, Bạch thược (sống) tư âm, dưỡng huyết, theo cách tả Nambôr Bắc; Nhân sâm, Phục thần, Toan táo nhân, Bá tử nhân, Viễnchis, Thạch xương bồ giao thông Tâm Thận, an thần, định chí; Long xỉ (sống), Hổ phách, Chu sa trấn Tâm, an thần (Trung Y Nội Khoa Học).Tâm hỏa vượng quá thêm Chu Sa An Thần Hoàn. Ngủ không yên thêm Khổng Thánh Chẩm Trung Đơn (Trung Y Nội Khoa Học). Một Số Bài Thuốc Kinh Nghiệm+ Bình Cuồng Thang ((Thiên Gia Diệu Phương, q Hạ): Kim mông thạch 25g, Uất kim 15g, Tam lăng, Nga truật đều 10g, Mộ hương 5g, Hắc sửu, Bạch sửu, Đào nhân đều 15g, Chỉ xác 10g, Đại hoàng (sống) 15g, Can khương 5g, Mang tiêu
  24. 24. 30g (chia ra cho vào thuốc sắc uống). Sắc uống.TD: Bình Can, giải uất, tả nhiệt hóa đờm, lý khí, tán kết. Trị tinh thần phân liệt (Can uất khí trệ, đờm hỏa kháng Tâm).+ Cuồng Tỉnh Thang (Thiên Gia Diệu Phương, q Hạ): Sài hồ 12g, Đại hoàng, Chỉ thực đều 9g, Đơn bì, Đào nhân đều 12g, Xích thược, Bán hạ, Trúc nhự đều 9g, Sinh khương 12g, Chi tử, Uất kim, Trần bì đều 9g. Sắc uống.TD: Thông tạng, tả nhiệt, hành ứ, tán kết. Trị tinh thần phân liệt (Khí hỏa giao uất, nhiệt và hỏa kết, phủ khí không thông, ứ nhiệt nung đốt bên trên).Đã trị 1 ca, uống 1 thang là khỏi.+ Tả Can Định Cuồng Thang (Trung Quốc Đương Đại Trung Y Danh Nhân Chí): Hoàng liên, Hoàng bá đều 9g, Hoàng cầm, Hoàng liên, Lô hội, Thanh đại (bọc vào, nấu trước), Sơn chi (sống) đều 10g, Đương quy 15g, Long đởm thảo 10g, Mộc hương 6g, Long não băng phiến 0,5g, Chu sa (nghiền nát hòa thuốc sắc uống).TD: Thanh Can, tả hỏa. Trị cuồng (Tinh thần phân liệt).+ Tứ Vị Đạt Doanh Thang (Triết Giang Trung Y Tạp Chí 1982, 9): Tam lăng, Nga truật đều 60g, Đại hoàng, Xích thược đều 30g. Sắc uống.TD: Điều khí, phá ứ, lương huyết, tả nhiệt. Trị bệnh tâm thần có chu kỳ(Chu kỳ tính tinh thần bệnh).Đã trị 44 ca, khỏi 40. Đạt tỉ lệ 90%.+ Phân Kỳ Bình Cuồng Thang (Tân Trung Y 1985, 6):1. Thanh mông thạch, Hải phù thạch, Hoàng bá (tẩm muối), Hoàng cầm, Đại giải thạch, Cúc hoa, Nhị sửu đều 12g, Trúc nhự, Chi tử (sống), Thiên hoa phấn, Mạch môn, Tri mẫu đều 9g, Đại hoàng (cho vào sau), Mang tiêu (cho vào nước thuốc sắc uống) đều 15g.2. Chi tử, Long đởm thảo, Huyền sâm, Sài hồ, Uất kim, Bạch thược, Địa long, Cúc hoa, Mạch môn, Tri mẫu, Nữ trinh tử, Nhị sửu, Đại hoàng(cho vào sau), Mang tiêu (trộn chung với nước thuốc sắc uống) đều 12g, Sinh địa, Đại giả thạch đều 15g.3. Sài hồ, Mộc hương, Xích thược, Hồng hoa đều 9g, Phục thần, Uất kim, Đương quy, Sinh địa, Xuyên khung, Đào nhân, Đan sâm, Hợp hoan bì,Viễn chí, Bá tử nhân, Nữ trinh tử đều 12g, Long xỉ 15g. Sắc uống.TD:. Bài 1: Thanh nhiệt, địch đờm, tả hỏa, thông tiện. Trị cuồng (đờm hỏa thực thịnh).. Bài 2: Thanh Can, tả hỏa, tả nhiệt thông tiện. Trị cuồng Hỏa thịnh dương kháng.. Bài 3: Thư Can, lý khí, hoạt huyết, khứ ứ. Trị cuồng (Khí trệ huyết ứ).Đã trị 2540 ca. Trong đó loại đờm hỏa thực thịnh là 1781 ca, trị khỏi 1689, có tiến bộ 74, không kết quả 18. loại hỏa thịnh dương kháng có 482 ca, trị khỏi 433, có tiến bộ 26, không kết quả 23. loại khí trệ huyết ngưng có 277 ca, trị khỏi 162, có tiến bộ 72, không kết quả 43, đạt tỉ lệ 96,69%.+ Dưỡng Doanh Tỉnh Thần Thang (Liêu Ninh Trung Y Tạp Chí
  25. 25. 1987, 8): Hoàng kỳ (nướng), Đảng sâm, Táo nhân (sao), Đan sâm 15g, Hắc phụ phiến 9~12g, Bạch truật (sao), Cửu tiết xương bồ đều 9g, Viễn chí 4,5g, Ngũ vị tử 3~4,5g, Can khương 3g. Sắc uống.TD: Ôn Thận kiện Tỳ, thông khiếu, tỉnh thần. Trị điên cuồng.Uống khoảng 10 thang là có kết quả dần.+ Điên Cuồng Phương (Danh Y Trị Nghiệm Lương Phương): Đại hoàng (sống), Cát hồng đều12g, Hậu phác, Sơn chi, Hoàng cầm đều 10g, Sài hồ 9g, Sinh địa 30g, Trúc nhự 15g, Long đởm thảo 10g, Phục linh 20g, Thạch cao (sống) 40g, Từ thạch 60g, Xa tiền tử 15g, Mạch môn 30g. Sắc uống.TD: Tả Can hỏa, thanh dương minh, thông nhị tiện, trấn an thần. Trị cuồng. Châm Cứu+ Bình Can, thanh hỏa, thanh Tâm, cổn đờm. Châm Lao cung, Nhân trung, Thượng quản, Đại chung.(Thượng quản thuộc Nhâm mạch, Nhân trung thuộc Đốc mạch, hai huyệt này giao hội với kinh túc Dương minh, tả hai huyệt này có tác dụng hòa Vị, giáng trọc, thanh hỏa, hóa đờm, điều hòa âm dương, tỉnh não, định chí; Lao cung thanh Tâm bào, tả Tâm hỏa; Đại chung có tác dụng tư Thận thủy, giáng hỏa).Nhiệt nhiều có thể thêm Đại chùy, Bá hội; Cuồng nộ nhiều thêm Thái xung, Chi câu (Tân Biên Châm Cứu Trị Liệu Học).+ Châm Giảm Thống Điểm: Bệnh nhân ngồi hoặc nằm, thầy thuốc dùng gạc vạch môi dưới người bệnh ra, để lộ màng dính môi dưới, tay phải cầm kim, châm vào chỗ màng lợi dính với môi, châm xiên góc 30o, châm nhanh vào, bổ tả tùy trạng thái bệnh (Trung Hoa Châm Cứu Bí Thuật Trị Liệu). Nhĩ ChâmDùng huyệt Tâm, Bì chất hạ, Thận, Chẩm, Não, Trán, Thần môn. Mỗi lần chọn 3~4 huyệt. Điên châm kích thích nhẹ. Cuồng châm kích thích mạnh. Tham Khảo+ Châm trị 500 ca tinh thần phân liệt, trong đó có:. 181 ca táo cuồng. Lấy huyệt ở mạch Đốc làm chính. Thường chọn Đại chùy, Cường gian, Nhân trung, Cưu vĩ làm chính. Phối hợp với Hậu khê xuyên Lao cung, Gian sử xuyên Chi câu, Thái xung xuyên Dũng tuyền.. 140 ca uất ức. Chọn huyệt ở mạch Nhâm làm chính. Thí dụ như đờm mê tâm khiếu thường dùng Cự khuyết, Chiên trung, Thần đình, Đại lăng, Phong long, Lao cung, Dũng tuyền. Can khí uất kết thường dùng Trung quản, Bá hội, Gian sử xuyên Chi câu, Thái xung xuyên Dũng tuyền hoặc Hợp cốc xuyên Lao cung. Thường dùng châm bổ.. 179 ca hoang tưởng: Thường dùng huyệt Trung quản, Chiên trung, Thần đình, Tam âm giao, Thần môn, Công tôn, Nội quan. Dùng châm bổ.Mỗi ngày châm một lần, 20 ngày là một liệu trình, nghỉ một tuần lại tiếp tục. Nếu bệnh chuyển biến tốt, cách ngày châm một lần.Kết quả: Khỏi hoàn
  26. 26. toàn: 275 (55%), Kết quả ít 84 (16,8%), Chuyển biến tốt 83 (16,6%), Không kết quả 58 (11,6%). Đạt tỉ lệ chung 88,4% (Châm Thích Trị Liệu Tinh Thần Phân Liệt 500 Liệt Liệu Hiệu Phân Tích – Trung Quốc Châm Cứu 1985, 5 (4) : 2).+ Châm Trị 105 ca Cuồng. Huyệt chính: Bá hội, Thần môn (2 bên), Thái xung (2 bên). Phối hợp với Chiên trung, Kỳ môn (2 bên). Châm tả, vê kim 3 lần. Có thê vê đến 500~100 lần. Mỗi ngày châm một lần, 20 lần là một liệu trình. Trong thời gian nghỉ, không dùng thuốc nào khác. Kết quả: sau khi uống 1~6 liệu trình, khỏi hoàn toàn 95, hiệu quả ít 7, chuyển biến tốt 3 (Châm Thích Trị Liệu Cuồng Chứng 105 Liệt Đích Thể Hội – Trung Y Dược Học Báo 1987 (2) : 36). Bệnh Án Tâm Thần Phân Liệt(Trích trong ‘Châm Cứu Lâm Chứng Thực Nghiệm’) Thành, nam, 28 tuổi, lái xe, nhập điều trị ngoại trú ngày 5/10/1974.Cách đây hơn một năm bệnh nhân bị rối loạn tinh thần do hoảng hốt và sợ hãi.Bên cạnh những triệu chứng điển hình xuất hiện trong bệnh tâm thần phân liệt, khám lâm sàng thấy thể trạng mập và yếu, rêu lười trắng, dày và nhờn, mạch Trầm, Hoạt, Huyền.Chẩn đoán là tâm thần phân liệt.Lần đầu châm An miên 2, Nội quan và Hậu khê và xoa cùng lúc. Ngày một lần. 7 ngày là một liệu trình.Sau khi điều trị, tình trạng bệnh nhân khỏe hơn nhiều.Lần thứ hai châm Bách hội, Khích môn, Khúc trì, Cưu vĩ, ngày một lần, 7 ngày là một liệu trình. Thủ pháp cũng giống như trên và liệu pháp lễ và véo được thực hiện mỗi ba ngày một lần.Sau liệu trình thứ hai, bệnh nhân có thể tự lo sống.Trong liệu trình thứ ba, hai huyệt ở mỗi bên của đốt sống cổ được châm bằng kim hướng về phía hàm dưới, sâu một thốn và nhóm huyệt hỗ trợ đầu tiên được châm cách ngày một lần với thủ pháp vê, trong đợt này châm 11 lần.Sau ba đợt điều trị như trên bệnh nhân hồi phục hoàn toàn và không thấy tái lại trong 4 năm. Bệnh Án Rối Loạn Tâm Thần(Trích trong ‘Châm Cứu Lâm Chứng Thực Nghiệm’) Bệnh nhân Lưu nữ, 31 tuổi, nông dân, nhập điều tri ngoại trú ngày 18/10/1976.Khởi phát loạn tâm thần cách đây một tháng do kích xúc tinh thần.Chẩn đoán là loạn tâm thần phản ứng.Châm Phong trì bên trái hướng qua Phong trì bên phải, Huyệt ở vị trí 1 thốn trên đường nách trước hướng ra đường nách sau, Khúc trì hướng vào Thiếu hải, Hợp cốc hướng ra Hậu khê, Gấp khớp góc 90o huyệt mặt trong đùi hướng ra mặt ngoài đùi, Dương lăng tuyền hướng vào Âm lăng tuyền Côn lôn hướng vào Thái khê. Sử dụng thủ pháp nâng, đẩy và vê một thời gian ngắn. Phối hợp uống Bạch phàn 30 - 90g, đường trắng 30 - 90g, nước 300 ml,
  27. 27. uống thuốc vào buổi sáng sớm. Chỉ sau một phút uống thuốc bắt đầu nôn thải ra khoảng 300ml đờm nhầy trắng, sau đó còn nôn mỗi 1 - 2 giờ, nôn tất cả 4 lần. Lúc đó, châm theo thủ pháp nâng đẩy và vê kim.Vào ngày hôm sau, tình trạng bệnh trở nên tốt hơn nhiều, bệnh nhân đã có thể ngủ nhiều giờ suốt bữa tối, có ý thức, có cảm giác hoảng sợ và hồi hộp.Điều trị sáu lần nữa như trên, bệnh khỏi hoàn toàn. Tóm kết: Hai chứng Điên và Cuồng, một chứng thuộc Đờm Khí, một chứng thuộc Đờm Hỏa, lại phân ra âm dương, hư thực, có thể bị riêng cũng có thể chuyển hóa lẫn nhau, vì vậy, trên lâm sàng cần lưu ý cho phù hợp với bệnh chứng. Huyệt Tâm Du  Trang chính  Châm cứu  Huyệt vị Tâm DuTên Huyệt Tâm Du:Huyệt có tác dụng đưa kinh khí vào (du) tạng Tâm, vì vậy gọi là Tâm Du.Tên Khác:Bối Du, Cứu Lao.Xuất Xứ:Thiên ‘Bối Du’ (Linh khu.51).Đặc Tính Huyệt Tâm Du:Huyệt thứ 15 của kinh Bàng Quang.Huyệt Bối Du của kinh Thủ Thiếu Âm Tâm.Huyệt tả khí Dương ở Ngũ Tạng (T.Vấn.32 và L.Khu.51).Vị Trí Huyệt Tâm Du:Dưới gai sống lưng 5, đo ngang ra 1, 5 thốn.Giải Phẫu:Dưới da là cơ thang, cơ trám, cơ lưng dài, cơ bán gai của cổ, cơ ngang gai, cơ ngang sườn, vào trong là phổi.Thần kinh vận động cơ là nhánh của dây thần kinh sọ não số XI, nhánh đám rối cổ sâu, nhánh đám rối cánh tay, nhánh của dây thần kinh gian sườn 5 và nhánh dây sống lưng 5.Da vùng huyệt chi phối bởi tiết đoạn thần kinh D5.Tác Dụng Huyệt Tâm Du:Dưỡng Tâm, an thần định chí, lý huyết, điều khí.Chủ Trị Huyệt Tâm Du:Trị bệnh về tim, tâm thần phân liệt, động kinh, thần kinh suy nhược.Phối
  28. 28. Huyệt:1. Phối Cách Du (Bàng quang.17) + Can Du (Bàng quang.18) + Đại Trữ (Bàng quang.11) + Đào Đạo (Đc.13) + Ngọc Chẩm (Bàng quang.9) trị mồ hôi không ra, tay chân lạnh, sợ lạnh (Bị Cấp Thiên Kim Phương)2. Cứu Tâm Du (Bàng quang.15) 5 tráng + phối cứu Cự Khuyết (Nh.14) 20-30 tráng trị phong cuồng (Biển Thước Tâm Thư).3. Phối Can Du (Bàng quang.18) + Cự Khuyết (Nh.14) + Cưu Vĩ (Nh.15) + Khuyết Bồn (Vị 12) trị ho ra máu (Tư Sinh Kinh).4. Phối Đại Trữ (Đc.13) trị uất ức trong ngực (Tư Sinh Kinh).5. Phối Thần Đạo (Đc.11) + Thiên Tỉnh (Tam tiêu.10) trị bứt rứt, hoảng hốt (Tư Sinh Kinh).6. Phối Thần Môn (Tm.7) trị si ngốc (Loại Kinh Đồ Dực).7. Phối Thần Môn (Tm.7) + Thiếu Hải (Tm.3) trị hay quên (Châm Cứu Đại Thành).8. Phối Nội Quan (Tâm bào.6) + Thần Môn (Tm.7) trị hồi hộp (Châm Cứu Đại Thành).9. Phối Quan Nguyên (Nh.4) + Tam Âm Giao (Tỳ 6) + Thận Du (Bàng quang.23) trị di tinh, bạch trọc (Châm Cứu Đại Thành).10. Phối Thận Du (Bàng quang.23) trị tinh tiết nhiều (Ngọc Long Kinh ).11. Phối Thần Đạo (Đ.11) trị động kinh (Bách Chứng Phú).12. Phối Bạch Hoàn Du (Bàng quang.30) + Cao Hoang Du (Bàng quang.43) + Quan Nguyên (Nh.4)+ Trung Cực (Nh.3) trị di tinh, mộng tinh, tiết tinh (Y Học Cương Mục).13. Phối Phong Long (Vị 40) + Thần Môn (Tm.7) + Trung Quản (Nh.12) + Vị Du (Bàng quang.19) trị mất ngủ (Trung Hoa Châm Cứu Học).14. Phối Cự Khuyết (Nh.14) + Nội Quan (Tâm bào.6) + Thần Môn (Tm.7) trị hay quên, hồi hộp, lo sợ (Trung Quốc Châm Cứu Học Khái Yếu).15. Phối Can Du (Bàng quang.18) + Phong Long (Vị 40) + Thần Môn (Tm.7) + Tỳ Du (Bàng quang.20) trị điên (Tứ Bản Giáo Tài Châm Cứu Học).16. Phối Khúc Trì (Đại trường.11) + Nội Quan (Tâm bào.6) + Thái Uyên (Phế 9) + Xích Trạch (Phế 5) kích thích vừa, lưu kim không quá 15 phút, trị chứng vô mạch (Cấp Chứng Châm Cứu Trị Liệu Pháp).17. Phối Quan Nguyên (Nh.4) + Tam Âm Giao (Tỳ 6) + Thần Môn (Tm.7) + Thận Du (Bàng quang.23) trị di mộng tinh (Hiện Đại Châm Cứu Y Án Tuyển).18. Phối Dương lăng Tuyền (Đ.34) + Nội Quan (Tâm bào.6) + Thần Môn (Tm.7) trị nhịp tim bị rối loạn (Châm Cứu Học Thượng Hải).19. Phối Liệt Khuyết (Phế 7) + Thần Môn (Tm.7) + Thiếu Hải (Tm.3) trị lú lẫn, hay quên (Châm Cứu Học Thượng Hải).20. Phối Quan Nguyên (Nh.4) + Tam Âm Giao (Tỳ 6) + Thận Du (Bàng quang.23) trị di tinh (Châm Cứu Học Thượng Hải).21. Phối Dương lăng Tuyền (Đ.34) thấu Âm Lăng Tuyền (Tỳ 9) + Nội Quan (Tâm bào.6) + Thần Môn (Tm.7) trị nhịp tim không đều.22.
  29. 29. Phối Cự Khuyết (Nh.14) trị thần kinh suy nhược (Châm Cứu Học Thượng Hải).23. Phối Bá Hội (Đc.20) + Khí Xung (Vị 30) + Thượng Liêu (Bàng quang.31) trị Hysteria (Châm Cứu Học Thượng Hải).24. Phối Bạch Hoàn Du (Bàng quang.30) + Cao Hoang (Bàng quang.43) + Thận Du (Bàng quang.23) trị mộng tinh (Châm Cứu Học Thượng Hải).25. Phối Phong Long (Vị 40) + Thần Môn (Tm.7) trị bịnh tim do phổi gây ra (Châm Cứu Học Thượng Hải).26. Phối Cách Du (Bàng quang.17) + Huyết Hải (Tỳ 10) + Tam Âm Giao (Tỳ 6) trị mạch máu bị viêm tắc (Châm Cứu Học Thượng Hải).Cách châm Cứu Huyệt Tâm Du:Châm xiên về cột sống 0, 5 - 0, 8 thốn - Cứu 3 - 5 tráng - Ôn cứu 5 - 10 phút.Ghi Chú: Không châm sâu quá vì có thể đụng phổi.- Thiên ‘Thích Cấm Luận’ ghi: “Thích Tâm Du, nếu trúng Tâm, một ngày chết, lúc mới phát động gây chứng ợ” (Tố vấn.52).Tham Khảo:“Di tinh bạch trọc Tâm Du (Bàng quang.15) trị” (Thắng Ngọc Ca).‘Tâm Du (Bàng quang.15) chủ trị mộng di Thận hư” (Ngọc Long Ca).“Mộng di tinh, mộng thấy quỷ giao: mùa xuân, thu, đông, có thể dùng phép cứu. Tâm Du (Bàng quang.15) cứu không nên nhiều, Cao Hoang (Bàng quang.43), Thận Du (Bàng quang.23) cứu theo tuổi, thấy ngay hiệu quả” (Loại Kinh Đồ Dực). https://khicongydaovietnam.wordpress.com/2011/08/18/cau-hoi-249/ Câu hỏi 249 : Kinh nghiệm khám định bệnh bằng máy đo áp huyết. Posted on August 18, 2011 by Đỗ Đức Ngọc Kinh nghiệm khám định bệnh bằng máy đo áp huyết. Nhìn kết qủa của máy đo áp huyết trên huyệt, biết được bệnh của tạng phủ về khí-huyết hư-thực, hàn-nhiệt thay cho bắt mạch hay thay cho xét nghiệm y khoa. Con Chào Thầy !!! Con gặp trường hợp có 2 bệnh nhân trên 60 tuổi , huyết áp 2 bên lúc nào cũng ngưỡng 160, 170, đôi khi lên đến 180. Nhưng tâm trương lại thấp hơn tiêu chuẩn. ( khác với trường hợp của thầy Thanh Cao ( Bài 152 ) là tâm trương cao hơn tiêu chuẩn ) . Nhịp tim đập cũng thấp hơn tiêu chuẩn nhiều. Toàn thân, móng tay, môi, mặt .v . v. sắc da thấy trắng bợt như thiếu máu. Chứ không thấy sắc đỏ như những người cao huyết áp. Người lạnh chứ không nóng. Hỏi bệnh nhân có cảm thấy choáng váng, đau đầu nhiều không. 1 người nói là hơi khó chịu đôi chút . Người còn lại trả lời là không. ( Chỉ có điều người nhà dẫn đi chữa đau lưng, đau khớp, đi đứng không vững tuổi già này nọ thôi chứ không chủ đích bệnh cao huyết áp.). Mặc dù bệnh nhân không có triệu chứng đau đầu. Nhưng con thấy áp huyết trên là không tốt. Con phân vân là căn cứ nhịp tim, màu sắc, rờ chân tay cho thấy là Hàn. Nhưng bây giờ cho họ ăn đồ bổ máu, đồ nóng vào cho nhịp tim lên thì sợ huyết áp tăng thêm nữa. Mà ăn đồ lạnh nữa thì
  30. 30. cũng không xong. Nguyên nhân là do cơ địa nên mặc dù áp huyết cao nhưng không gây đau đầu, hay do lý do nào khác thưa thầy. Kính mong thầy xem xét, phân tích giúp con !!! Chúc thầy và mọi người sức khỏe. Con cám ơn thầy !!! Trả lời : Căn cứ vào kết qủa số đo áp huyết có những trường hợp sau đây, lấy theo lứa tuổi trung niên : Trường hợp 1, bình thường khỏe mạnh : 120-130/70-80mmHg mạch 70-75 A-Những trường hợp áp huyết cao thuộc thực chứng : Trường hợp 2 : 160/70-90mmHg mạch 80 . Kết luận : Cao áp huyết đơn thuần, không có bệnh tim mạch. Trường hợp 3 : 160/100mmhg mạch 80. Kết luận : Cao áp huyết hở van tim. B-Những trưòng hợp áp huyết cao:: Trường hợp 4 :Thực chứng và thực nhiệt : 160/100mmHg 100 người nóng do nhịp tim nhanh, cao áp huyết, hở van tim. Trường hợp 5 : Thực chứng và thực hàn : 160/70-90mmHg mạch 50-60, nhịp tim chậm nên người lạnh, hơi thở ngắn gấp mới bị cao áp huyết, giống như suyễn hàn. Trường hợp 6 : 170/60mmHg mạch 65, người thực hàn, thiếu máu, áp huyết cao do tâm hư, thận thủy thực, hẹp van tim thỉnh thoảng bị ngộp thở hoặc hụt hơi. Tập bài Kéo Ép Gối Thở Ra Làm Mền Bụng cho áp huyết xuống, nhịp tim tăng lên. C-Những trường hợp áp huyết thấp thuộc hư chứng : Trường hợp 7: 130/60mmHg mạch 50 người lạnh, đủ khí thiếu huyết, do tim nhỏ.. Trường hợp 8 : 90/60mmHg mạch 50 người lạnh, thiếu khí thiếu huyết, do tim nhỏ. D-Những trường hợp áp huyết thấp thuộc thực chứng : Trường hợp 9 : 80/55mmHg mạch 120 thiếu khí, và thiếu máu, đang nóng sốt do máu nhiễm trùng, cơ tim co bóp chặt làm đau nhói ngực. Trường hợp này rất nguy hiểm, nếu hạ nhiệt cho nhịp tim xuống thì áp huyết xuống theo, cơ thể lạnh, đi vào hôn mê chết sau khi ngủ. Nếu cơ thể còn sức đề kháng, thì cơ thễ vẫn giữ nhiệt cao, tim đập nhanh để giữ áp huyết không bị tụt thấp. Áp huyết này ở bên bờ cửa tử. Do đó cần phải bổ máu, nhịp tim sẽ châm lại mà áp huyết không bị tụt thấp. E-Những trường hợp bệnh nan y có áp huyết giả: Trường hợp 10 : hàn giả nhiệt : 90/60mmHg mạch 50, thiếu khí huyết, ngưòi nóng, dấu hiệu ung thư, cần phải uống thuốc bổ máu một thời gian 2 tháng cho áp huyết lên. Trường hợp 11 : nhiệt gỉa hàn : 80/55mmHg mạch 120 thiếu khí người lạnh, trường hợp ung thư cấp tính, không nên đụng đến, áp huyết này cũng bên bờ cửa tử. Trường hợp 12 : 130/65mmHg mạch 120 nếu người lạnh là do thiếu khí.và huyết, cần uống thuốc bổ máu cho máu đủ thì nhịp tim sẽ đập chậm lại và số tâm thu sẽ xuống.. Trường hợp 13 : 160/100mmHg 110 người lạnh. Nhiệt gỉa hàn, tập bài Kéo Ép Gối Thở Ra Làm Mềm Bụng, áp huyết sẽ trở lại bình thường, thân nhiệt đều, vì van tim mở lớn làm ứ khí huyết không thông. F-Những trường hợp liên quan đến van tim đóng chặt : Trường hợp 14 : 130/60mmHg mạch 70, có dấu hiệu thỉnh thoảng ho, khí công gọi là tiếng ho cứu mạng làm van tim bật ra, nếu không van tim bóp chặt không mở làm nhịp tim bị nhẩy mất nhịp. Trường hợp 15 : 130/60mmHg mạch 120 người nóng, do van tim bóp chặt, máu không trao đổi được oxy, nên trong máu nhiều CO2 tạo nên máu nhiệt. Trường hợp 16 : 130/60Hg mạch 120 người lạnh, van tim đóng chặt, do uống nhiều nước làm mất nhiệt của tâm hỏa. Trường hop 17 : 130/60Hg mạch 50 người nóng, hàn giả nhiệt, hẹp van tim, khí đủ, thiếu máu thực chứng, cần bổ máu và tập bài Kéo Ép Gối Thở Ra Làm Mềm Bụng 100 lần thông khí toàn thân để điều hòa thân nhiệt.
  31. 31. Trường hợp 18 : 90/60mmHg mạch 55, giống trường hợp 7, nhưng người nóng không do sốt nhiễm trùng, hẹp van tim, vừa thiếu khí, vừa thiếu huyết. Cần bổ máu, và tập Đứng Hát Kéo Gối Lên Ngực. G-Những trường hợp van tim hở, mở lớn : Trường hợp 19 : 180/100-120mmHg mạch 75 , do giãn mạch, tim thòng, do uống thuốc giãn mạch, nên mạch bình thường. Nếu đưa áp huyết xuống bệnh nhân lại bị mệt do nhịp tim rối loạn qúa cao hoặc qúa thấp. Trường hợp 20 : 130/100-120mmHg mạch 120, van tim mở lớn, tim to, hẹp ống mạch quanh màng bao tim, nên nhịp tim nhanh nếu cơ thể không bị nhiệt, không cao áp huyết. Trường hợp 21 : 90/100-120mmHg mạch 55, thiếu khí huyết và tim lớn bẩm sinh, người lạnh, mặt phù., cần tập bài Nạp Khí Trung tiêu thông khí toàn thân, và làm van tim thu hẹp lại. Trường hợp 22 : 80/100-120mmHg mạch 120, áp huyết thấp, mạch nhanh nhưng người không nóng, hở van tim do uống nhiều nước, đáy tim nở lớn, làm mệt, mặt phù nề. H-Những trường hợp khi đo áp huyết máy bơm nhồi 2-3 lần mới cho ra kết qủa. Trường hợp 23 : 130/120mmHg mạch 75, hở van tim do cholesterol , thân nhiệt bình thường. Trường hợp 24 : 190/120mmHg mạch 95, hở van tim do ăn nhiều chất béo, cay, nóng, trán nóng, người có bụng mập. Châm nặn máu huyệt Thương Dương làm thông tim. Trường hợp 25 : 120/60mmHg mạch 70 áp huyết bình thường, nhưng hẹp van tim do cholesterol đóng cục chặn nơi van khi van tim co lại làm nhói tim ngực. Cần tập bài Đứng Hát Kéo GốI Lên Ngực. làm mở van tim. I-Những trường hợp đo kết qủa hai bên tay chênh lệch : a-Bên tay trái cao hơn bên phải : Trường hợp 26, Bên trái cao hơn tiêu chuẩn, bên phải đúng tiêu chuẩn : Trái :160/80mmHg mạch 90, Phải : 130/80mmHg mạch 80 đo ăn nhiều không tiêu. Trường hợp 27, bên trái cao hơn bên phải, cả hai cao hơn tiêu chuẩn : Trái 180/80mmHg mạch 95, Phải 160/80mmHg mạch 85, người dư khí huyết do ăn nhiều chất bổ mà lườI tập thể dục. Trường hợp 28, bên trái cao hơn tiêu chuẩn, bên phải thấp hơn tiêu chuẩn : Trái 170/80mmHg mạch 90, Phài 115/80mmHg mạch 75. Áp huyết hai bên chênh lạch nhiều, bên cao bên thấp, do ăn thiếu máu, làm đau nửa đầu bên phải, thoái hóa xương cổ, vẹo cổ hay vẹo cột sống, rối loạn tiền đình Trường hợp 29 : bên trái cao hơn bên phải nhưng cả hai dưới tiêu chuẩn : Phải 110/78mmHg mạch 70, Trái 90/68mmHg mạch 65. Gan thiếu máu, cơ thể thiếu khí, do ăn nhiều chất chua, ngườI ốm gầy, đau nhức gân xương, ngườI lạnh, đau nửa đầu, khó thở, van tim hai bên không đều, hẫng nhịp tim. Cần uống thuốc bổ máu. tập bài Đứng Hát Kéo GốI Lên Ngực, Cúi Ngửa 4 Nhịp, và uống trà gừng mật ong. Trường hợp 30 : bên phải cao hơn bên trái, cả hai dưới tiêu chuẩn nhưng mạch nhanh : Trái 110/78mmHg mạch 110, Phải 90/68mmHg mạch 110, là bệnh ung thư cấp tính do thiều khí huyết. Cần bổ huyết để mạch tim chậm lại. Tập thở Đan Điền Thần để duy trì áp huyết. Trường hợp 31 : bên trái cao hơn bên phải, cả hai dưới tiêu chuẩn nhưng mạch chậm : Trái 110/78mmHg mạch 55, Phải 90/68mmHg mạch 50. Gan thiếu máu bẩm sinh, đau nửa đầu, đau cổ gáy tay vai do không đủ máu tuần hoàn nuôi các khớp. Cần bổ máu, uống trà gừng, Thở Đan Điền Thần. b-Bên tay phải cao hơn bên trái : Trường hợp 32, Bên phải cao hơn tiêu chuẩn, bên trái đúng tiêu chuẩn : Phải :160/80mmHg mạch 90, Trái : 130/80mmHg mạch 80, do chức năng gan thực, gan hơi nhiệt . Trường hợp 33, bên phải cao hơn bên trái, cả hai cao hơn tiêu chuẩn :
  32. 32. Phải 180/80mmHg mạch 95, Trái 160/80mmHg mạch 85, tâm nhiệt, vì mẹ của tâm và con của tâm nhiệt, do ăn uống những thức ăn nhiệt gây táo bón. Tập Kéo Ép Gối Làm Mềm Bụng và dùng Phan Tả Diệp làm hạ áp huyết, xổ nhiệt độc cho gan. Trường hợp 34, bên phải cao hơn tiêu chuẩn, bên trái thấp hơn tiêu chuẩn : Phải 170/80mmHg mạch 90, Trái 115/80mmHg mạch 75, rối loạn tiền đình, tây y thường cho là virus trong tai. Bấm huyệt Ế Phong, bổ bên trái thấp, tả bên phải cao cho áp huyết hai bên quân bình. Trường hợp 35 : bên phải cao hơn bên trái nhưng cả hai dưới tiêu chuẩn : Phải 110/78mmHg mạch 70, Trái 90/68mmHg mạch 65, có dấu hiệu đau nửa đầu bên trái nhiều năm dẫn đến bệnh bướu não bên trái. Bấm bổ É Phong bên trái, tập bài Đứng Hát Kéo Gối Lên Ngực và Cúi Ngửa 4 Nhịp để cung cấp máu nuôi não, và uống thuốc bổ máu. Trường hợp 36 : bên trái cao hơn bên phải, cả hai dưới tiêu chuẩn nhưng mạch nhanh : Trái 110/78mmHg mạch 110, Phải 90/68mmHg mạch 110. Bệnh gan thiếu máu, có dấu hiệu chai gan, thoái hóa xương cổ, lưng, liệt dây thần kinh mặt, đầu chân tay tê, để lâu không chữa bổ máu, dẫn đến bệnh ung thư nội tạng. Trường hợp 37 : bên trái thấp hơn bên phải, cả hai dưới tiêu chuẩn nhưng mạch chậm : Phải 110/78mmHg mạch 55, Trái 90/68mmHg mạch 50, do ăn những chất không bổ máu, những chất hàn lạnh, làm cơ thể thiếu máu, ăn không tiêu, đau bụng, bụng có hòn cục người thiếu khí suy nhược, phổi bị hàn đàm làm suyễn, tiêu chảy làm ra bệnh đường ruột, dẫn đến ung thư bao tử, ruột, bướu ổ bụng. Chỉnh lại cách ăn uống bổ máu, uống trà gừng mật ong, tập bài Nạp Khí Trung Tiêu, Đứng Hát Kéo Gối Lên Ngực. K- Đo áp huyết riêng của Tạng Phủ trên các huyệt liên quan : Trong 37 trường hợp trên cũng có thể xảy ra tương tự, khi máy đo áp huyết vẫn để trên tay, nhưng bấm trên huyệt khác nhau để tìm bệnh khí-huyết của từng tạng phủ sẽ cho ra kết qủa khác nhau như : a-Tìm bệnh khí-huyết ở phổi : Bấm huyệt Vân Môn hay Trung Phủ bên trái thì đo áp huyết bên tay trái, bấm huyệt bên phải thì đo áp huyết bên tay phải, để biết phổi bên nào hư hay thực, hàn hay nhiệt. b- Tìm bệnh khí-huyết của chức năng thận dương : Bấm huyệt Khí Hải, đặt máy bên trái để biết tỳ khí và thận khí. Đặt máy bên tay phải đẻ biết can khí và thận khí. Bấm huyệt Âm Giao để biết chức năng thận thủy của thận trái, đặt máy bên tay trái, của thận phải, đặt máy bên tay phải. c-Tìm bệnh khí-huyết của riêng tạng gan Bấm huyệt Kỳ Môn bên phải thuộc gan tỳ. Bấm huyệt Chương Môn bên phải thuộc chức năng gan-tỳ và để máy đo áp huyết bên tay phải. Bấm huyệt Nhật Nguyệt phải để biết chức năng hoạt động của túi mật, máy đo đặt bên tay phải. d-Tìm bệnh khí-huyết của tim : Bấm huyệt Cưu Vĩ để biết bệnh tim bên trái qủa tim, để máy đo bên tay trái. Bên phải qủa tim, để máy đo bên tay phải. Còn để máy đo bình thường, không bấm huyệt nào, là đo bệnh tim do ảnh hưởng ăn uống, đặt máy đo bên tay trái. Đặt máy do bên tay phải là đo tim do chức năng của gan. e-Tìm bệnh khí-huyết ở bao tử : Bấm huyệt Trung Quản, xem bệnh riêng của bao tử, về hư-thực, hàn-nhiệt, để máy đo áp huyết ở tay trái. Nếu cũng bấm huyệt Trung Quản mà để máy đo áp huyết bên tay phải để xem chức năng gan ảnh hưởng đến bao tử để chuyển hóa thức ăn tốt hay xấu. f-Tìm bệnh khí-huyết của riêng tạng tỳ : Bấm huyệt Chu Vinh trái, đo máy bên tay trái, biết bệnh thuộc chức năng tỳ vị hư-thực, hàn- nhiệt.. Bấm huyệt Thiên Khê trái, để máy đo bên tay trái, sẽ biết bệnh liên quan đến phế -vị-tỳ.
  33. 33. L- Đo áp huyết dưới cổ chân trong nơi huyệt Tam Âm Giao : Theo tiêu chuẩn khí công, số đầu của áp huyết tâm thu ở dưới chân chỉ khí lực ở chân, cao hơn ở tay 10mmHg là đúng tiêu chuẩn. a-Nếu cao hơn tiêu chuẩn nhiều thì chân bị sưng, ứ tắc, nặng, tê, đau. b-Nếu thấp hơn tiêu chuẩn nhiều là chân yếu không có sức, teo chân, liệt chân. Số thứ hai tâm trương, chỉ ống động mạch và tĩnh mạch ở chân : a-Nếu cao hơn tiêu chuẩn là có dấu hiệu ống mạch chân bị trương căng phình do ứ nước, mạch lươn, phình tĩnh mạch, nguyên nhân do uống nhiều nước làm bụng dưới to nặng đè chặn nơi động mạch háng. b-Nếu thấp hơn tiêu chuẩn là mạch máu ở chân bị teo, do thiếu máu, có dấu hiệu gân chân và dây thần kinh bị co rút đau nhức, tê, chứng tỏ thận thiếu nước, khô xương, thoái hóa cột sống lưng, đĩa đệm bị chèn ép gọi là bệnh gai cột sống, năm ngón chân tê cứng mất cảm giác. Số thứ ba nhịp mạch đập : a-Mạch đập chậm hơn tiêu chuẩn là thiếu máu, và chân lạnh, co rút đau. b-Mạch đập nhanh hơn tiêu chuẩn, chân nóng, thận nhiệt, sưng đau nhức. Cả hai chân cả 3 số cao hơn tiêu chuẩn, có dấu hiệu bệnh viêm sưng tuyến tiền liệt, bệnh đường tiết niệu, ung thư tử cung, sa tử cung dây chằng. Bên qúa cao, bên bình thường, bí tiểu, chân lạnh là có dấu hiệu đau lưng một bên xuyên ra phía rốn liên quan đến sạn thận. Hai bên đều thấp dưới tiêu chuẩn là chân vô lực, có dấu hiệu liệt chân, teo chân. Lưu ý : 1-Những thầy chữa không nên đụng vào cơ thể người bệnh trong những trường hợp áp huyết của người lớn tuổi đang bị ung thư có số đo dưới 90, chỉ hướng dẫn họ hay người nhà tự chữa bằng cách bấm huyệt Ế Phong làm tăng áp huyết, uống thuốc bổ máu, tập thở Đan Điền Thần hay thở trên 3 huyệt Thượng-Hạ Uyển. Cấm kỵ dùng Phan Tả Diệp khi áp huyết thấp làm tụt áp huyết thêm sẽ làm mất sức dễ bị tử vong. 2-Những trường hợp áp huyết qúa cao, cũng không nên đụng vào cơ thể bệnh nhân, chỉ hướng dẫn người nhà châm nặn máu 10 đầu ngón tay chân, và nằm thở ở Khí Hải với một cây bút hay đầu đũa ấn đè vào huyệt Khí Hải sâu 3cm, há miệng thổi hơi ra nhẹ nhàng, từ từ, trong 30 phút, nếu áp huyết xuống dần thì có kết qủa. Trường hợp này có thể dùng Phan Tả Diệp. 3-Trên đây là những trường hợp khám bệnh bằng máy đo áp huyết để biết tình trạng khí-huyết trong cơ thể thay cho cách bắt ba bộ mạch ở cổ tay của bệnh nhân theo phương pháp đông y là 3 bộ vị thốn-quan-xích, mục đích để tìm hư-thực, hàn-nhiệt, biểu-lý ở mỗi tạng hay phủ khác nhau. Nhưng ưu điểm của máy đo áp huyết chính là máy đo khí huyết biết ngay được những yếu tố cần thiết để tìm ra bệnh về khí, về huyết của từng tạng phủ, cho ra con số chính xác về hư thực, hàn nhiệt. Từ dó áp dụng quy luật lý luận ngũ hành tìm ra gốc bệnh để chữa bằng cách điều chỉnh Tinh- Khí-Thần, sau đó kiểm chứng lại bằng máy đo áp huyết để biết kết qủa xem chữa đúng hay sai. Thân doducngoc http://khicongydaododucngoc.blogspot.cz/2010/08/235-huong-dan-hoc-vien-va- benh-nhan-tu.html Sự quan trọng để chẩn đoán bệnh bằng máy đo áp huyết liên quan đến chất đường, chất vôi và chất chua
  34. 34. 1-Áp huyết và đường : Qua kinh nghiệm trong thời gian nhịn ăn bằng phương pháp uống nước chanh-đường để thanh lọc độc trong cơ thể, chúng ta đã rút ra được nguyên tắc điều chỉnh áp huyết và đường trong máu, mặc dù chúng ta đang có bệnh áp huyết cao và có bệnh tiểu đường. Theo tây y, chúng ta có bệnh tiểu đường sẽ không được ăn thêm chất ngọt, nhưng thực tế trong thời gian nhịn ăn 12 ngày, mỗi ngày chúng ta đưa vào cơ thể trung bình khoảng 200g đường trong thời gian nhịn ăn với tổng số đường là 2.4kg, mà lượng đường trong máu vẫn không tăng. Đối với người có bệnh cao áp huyết, mặc dù đang uống thuốc trị bệnh cao áp, nhưng khi ăn nhiều chất ngọt, hay uống thuốc bổ xương calcium làm áp huyết sẽ tăng cao theo tỷ lệ đường, và calcium, nên thuốc trị áp huyết không còn tác dụng làm hạ áp huyết. Theo lý thuyết ngũ hành của đông y, đường là chất ngọt đi vào tạng tỳ (lá mía) do đó có chức năng hấp thụ và chuyển hóa chất ngọt của thức ăn vào máu được chuyển vào gan, nếu chức năng chuyển hóa về gan suy yếu thì lượng đường trong máu sẽ tăng cao. Sở dĩ chúng ta biết được điều này khi thử đường ở huyệt Đại Đôn bên chân phải kinh Gan, ở huyệt Ẩn Bạch bên chân trái trên kinh Tỳ, và thử đường trong máu ở tay như bình thường mà tây y vẫn áp dụng sẽ có 3 kết qủa khác nhau : a-Nếu chức năng hấp thụ và chuyển hóa đường tốt, thì 3 kết qủa sẽ tương đương giống nhau, thí dụ 6.5mmol/l b-Nếu Tỳ không hấp thụ, chất ngọt sẽ nằm trong máu. thì kết qủa thử đưòng ở tỳ thấp hơn ở trong máu, thí dụ ở tỳ đo được 5.2mmol/l, trong máu 6.5mmol/l. c-Nếu gan hấp thụ đưòng thì đường trong gan 6.5mmol/l, nếu gan không hấp thụ thì đường trong gan thấp như 3-4.0mmol/l. Giữa những số chênh lệch này, có thể tập khí công để điều chỉnh.

×